Một trại ong dú có nhiều người làm chạy êm khi mỗi việc có một người chịu trách nhiệm rõ, chỉ vài người được phép mở hộp, mọi lần mở đều ghi vào sổ chung, và khâu cần sạch như lấy mật, đóng chai được tách khỏi khâu bẩn như sửa giá, dọn cỏ. Thiếu những quy ước đó, nhiều người cùng làm lại hại đàn hơn một người làm.
Chuyện thật ở nhiều trại: sáng anh A mở hộp số 12 kiểm đàn, chiều chị B không biết, mở lại để lấy mật. Hai lần trong một ngày, đàn hở hai lần, mấy hôm sau thấy dòi ruồi trong bình phấn. Không ai làm sai thao tác, chỉ là không ai biết người kia đã làm.
Vì sao trại đông người lại dễ hại đàn?
Ong dú chịu được việc mở hộp, nhưng chịu có giới hạn. Mỗi lần mở, tổ hở ra, bình sáp có thể vỡ, mùi mật bay ra kéo ruồi và kiến. Một người nuôi biết mình mở hộp nào khi nào thì tự cân được. Năm người cùng làm mà không báo nhau thì không ai cân được.
Người làm cũng có tay nghề khác nhau. Người lâu năm nhìn cửa tổ là biết đàn ổn, không cần mở. Người mới chưa tự tin, hay mở để nhìn cho chắc. Thiện ý của người mới, nhân lên nhiều lần, thành gánh nặng cho đàn.
Mỗi người lại có thói quen riêng. Người này đậy nắp bằng băng keo, người kia chèn giấy. Người này để dao trên nắp hộp, người kia rửa dao sau mỗi hộp. Khác thói quen thì khó kiểm, và khi có chuyện thì khó biết do đâu.
Trại nhiều người cần biến những thói quen tốt của người giỏi nhất thành quy ước chung. Không cần văn bản dày, chỉ cần vài điều ai cũng nhớ và một cuốn sổ ai cũng ghi.
Chia việc theo vai, không theo ngày
Người phụ trách đàn. Một hai người hiểu ong nhất, quyết định hộp nào cần mở, đàn nào cần tách, đàn nào cần nghỉ.
Người lấy mật. Làm việc cần sạch và nhẹ tay. Nên là người tỉ mỉ, được dạy kỹ, không phải ai rảnh thì làm.
Người sơ chế và đóng chai. Làm trong khu sạch, tay sạch, dụng cụ riêng. Không cùng lúc làm việc bẩn ngoài vườn.
Người lo hộp và giá. Đóng hộp, sửa giá, chặn kiến, chằng chống trước mùa gió. Việc nặng, cần người khoẻ.
Người lo vườn hoa và cỏ. Phát cỏ thấp, giữ cây ra hoa, tưới cây. Phải biết tránh phát sát cửa tổ giờ ong bay.
Người giữ sổ. Không nhất thiết người ghi hết, nhưng là người cuối ngày nhìn lại sổ xem có thiếu dòng nào không.
Người bán hàng. Giữ khách, nhận đơn, báo cho người lấy mật biết cần bao nhiêu. Không tự ra vườn lấy mật cho kịp đơn.
Một người kiêm nhiều vai cũng được. Trại nhỏ ba người thì mỗi người vài vai. Quan trọng là mỗi vai có tên người.
Vai có người thay. Mỗi vai có một người chính và một người biết làm thay khi người chính vắng.
Ghi vai lên bảng ở trại. Một tấm bảng nhỏ ghi ai lo việc gì, tháng này ai thay ai.
Đổi vai có kế hoạch. Muốn người mới học thêm vai, cho đi kèm người cũ vài tuần chứ không đổi một lần.
Ai được mở hộp, và mở thì ghi gì?
Quy ước quan trọng nhất của trại nhiều người là giới hạn người được mở hộp. Người làm vườn, người đóng chai, người bán hàng không tự mở hộp, dù chỉ để xem. Thấy gì lạ ở cửa tổ thì báo người phụ trách đàn. Quy ước này nghe khắt khe nhưng giảm hẳn số lần đàn bị mở.
Người được mở hộp thì mỗi lần mở ghi một dòng: ngày, mã hộp, người mở, lý do, thấy gì, đã làm gì. Sổ đặt ở chỗ cố định gần khu hộp, hoặc dùng điện thoại nếu cả trại quen. Không ghi thì coi như chưa mở, người sau có quyền mở lại, và lỗi thuộc về người không ghi.
Trước khi mở, người mở xem sổ. Hộp nào mới mở trong vài ngày gần đây thì không mở lại trừ khi có lý do khẩn. Thói quen nhìn sổ trước khi mở là thói quen đáng dạy đầu tiên cho người mới.
Cuối tuần, người phụ trách đàn lướt lại sổ. Hộp nào bị mở nhiều quá, hộp nào lâu không ai đụng, hộp nào ghi có vấn đề mà chưa có dòng xử lý. Mười lăm phút mỗi tuần như vậy cứu được nhiều đàn hơn mọi loại thuốc.
Giao ca, giao việc và dạy người mới
Giao việc bằng lời và bằng sổ. Nói xong thì ghi. Lời nói dễ quên, sổ thì còn.
Đầu ngày năm phút. Cả trại đứng lại năm phút: hôm nay mở hộp nào, lấy mật hộp nào, có ai phun thuốc gần không.
Cuối ngày một vòng kiểm. Người phụ trách đi một vòng xem nắp hộp đã đậy kín, dụng cụ đã dọn, mật rơi đã lau.
Người mới đi kèm người cũ. Tuần đầu người mới chỉ xem và làm việc phụ, không tự mở hộp.
Dạy nhìn cửa tổ trước. Đọc được cửa tổ là kỹ năng nền. Người mới nhìn cửa tổ giỏi thì bớt mở hộp vô ích.
Dạy cả lý do, không chỉ thao tác. Người biết vì sao phải đậy kín sẽ đậy kín cả lúc không ai nhìn.
Danh sách việc cho từng vai. Một tờ giấy ngắn liệt kê việc hằng ngày, hằng tuần của mỗi vai.
Báo sự cố không bị trách. Người làm vỡ bình mật, làm đổ hộp phải được báo mà không sợ bị mắng. Giấu lỗi mới là lỗi lớn.
Mùa cao điểm có lịch riêng. Mùa tách đàn, mùa lấy mật cần thêm người phụ và lịch chi tiết hơn.
Người làm thời vụ chỉ làm việc phụ. Người thuê ngắn ngày nên làm hộp, giá, cỏ, đóng chai, không mở hộp.
Ghi nhận người làm tốt. Một lời khen trước cả trại khi ai phát hiện sớm vấn đề của đàn giúp cả trại có thói quen để ý.
Khâu sạch và khâu bẩn phải tách nhau
Khu sơ chế riêng. Lọc mật, đóng chai làm trong một khu có mái, sàn dễ lau, không làm chung với chỗ sửa hộp.
Dụng cụ lấy mật không dùng việc khác. Dao, khay, ống hút mật chỉ dùng cho mật, rửa sạch, phơi khô sau mỗi buổi.
Rửa tay giữa hai khâu. Người vừa sửa giá, dọn cỏ chuyển sang đóng chai phải rửa tay, thay áo nếu bẩn.
Không ăn uống trong khu sơ chế. Thức ăn, nước ngọt kéo kiến, ruồi vào đúng chỗ cần sạch nhất.
Ghi mẻ mật lên chai. Chai ghi ngày lấy, hộp hoặc nhóm hộp, người lấy. Có vấn đề còn truy ra.
Mật nghi ngờ để riêng. Mật có mùi lạ, có bọt, có dòi thì để riêng, báo người phụ trách, không trộn vào mẻ tốt.
Rác sáp và bã để đúng chỗ. Sáp vụn, bình vỡ bỏ vào thùng có nắp, xa khu hộp để không kéo sâu hại.
Vệ sinh khu sơ chế cuối ngày. Lau sàn, rửa bàn, đậy dụng cụ. Mật dính sàn qua đêm là kiến tới.
Người bị bệnh không làm khâu sạch. Người đang ho, sốt, có vết thương ở tay chuyển sang việc khác.
Sổ khâu sạch riêng. Ghi mẻ nào sơ chế ngày nào, ai làm, bảo quản ở đâu.
Hỏi quy định an toàn thực phẩm. Khi bán rộng, khu sơ chế có thể phải đạt điều kiện nhất định. Hỏi cơ quan y tế hoặc cán bộ xã.
Câu hỏi thường gặp
Trại ong dú bao nhiêu người thì cần phân công rõ?
Ngay từ khi có hai người cùng làm đã nên có quy ước ai được mở hộp và ghi sổ chung. Càng đông người, phần phân vai càng cần cụ thể.
Người nhà làm trại có cần sổ sách như người làm thuê không?
Có. Người nhà dễ bỏ qua vì tin nhau, nhưng đàn ong không phân biệt ai mở. Sổ chung giúp cả nhà biết đàn đã được đụng tới bao nhiêu lần.
Có nên trả công theo số hộp mỗi người chăm không?
Trả theo số hộp dễ khiến người làm chạy theo số, mở hộp nhanh và ẩu. Nên kết hợp với tình trạng đàn sau một thời gian.
Làm sao biết người làm có mở hộp mà không ghi?
Băng keo hay dấu niêm trên nắp bị xê dịch là dấu hiệu. Tốt hơn hết là tạo không khí ghi sổ là chuyện bình thường, không phải để kiểm soát.
Người mới bao lâu thì được tự mở hộp?
Tuỳ người, nhưng nên sau khi đã đi kèm nhiều buổi, đọc được cửa tổ và làm đúng các bước đậy kín dưới mắt người cũ.