Người nuôi ong dú ở Việt Nam đang gắn kết theo ba lớp: nhóm trao đổi trên mạng xã hội, nhóm nhỏ trong làng xã gặp nhau trực tiếp, và các trại có buổi học thực hành nơi người cũ người mới cùng mở hộp. Cộng đồng mạnh lên khi mọi người chia sẻ cả đàn giống, cả cách làm lẫn thất bại; yếu đi khi biến thành nơi rao bán.
“Nuôi ong dú thì hỏi ai?” là câu nhiều người mới đặt ra. Ong mật có hệ thống nghề lâu đời, có sách, có người thu mua. Ong dú thì khác: phần lớn kiến thức nằm trong đầu những người nuôi lẻ tẻ khắp các vùng, mỗi nơi một cách gọi, một cách làm. Cộng đồng chính là nơi các mảnh kiến thức đó gặp nhau.
Cộng đồng ong dú hình thành từ đâu
Trước khi có nghề nuôi, ong dú gắn với người qua chuyện lấy mật rừng và những đàn tình cờ sống trong cột nhà, gốc cây vườn. Ở Nam Bộ, nhiều nhà kể từ đời ông bà đã có ong dú ở trong vườn, thỉnh thoảng lấy chút mật làm quà. Ở vùng núi, đồng bào nhiều dân tộc có cách tìm tổ, lấy mật riêng. Mỗi vùng giữ một mảnh kinh nghiệm, ít khi gặp nhau.
Vài năm gần đây, người ta bắt đầu đưa ong dú vào hộp, đặt thành trại. Khi số người nuôi tăng, các nhóm trên mạng xã hội ra đời để hỏi đáp. Đây là bước làm cho người ở Tây Nguyên nghe được kinh nghiệm của người miền Tây, người miền Trung so được với người miền Bắc.
Song song là các nhóm nhỏ gặp mặt thật: vài nhà trong xã cùng nuôi, chiều chiều ghé xem hộp nhau. Rồi một số trại bắt đầu mở cửa cho người tới học, tạo ra chỗ gặp gỡ định kỳ. Ba lớp đó bổ sung cho nhau: trên mạng thì rộng, trong làng thì gần, ở trại thì được làm bằng tay.
Điểm đặc biệt của cộng đồng ong dú là chưa có khuôn sẵn. Ai cũng đang học, kể cả người nuôi lâu. Cái đó vừa là cơ hội, vì ai cũng có thể góp phần, vừa là rủi ro, vì thông tin sai cũng lan nhanh như thông tin đúng.
Những hình thức gắn kết đang có
Nhóm hỏi đáp trên mạng xã hội. Đăng ảnh cửa tổ, hỏi loài, hỏi bệnh. Nhanh, rộng, nhưng câu trả lời lẫn lộn đúng sai.
Nhóm nhắn tin theo tỉnh, theo vùng. Nhỏ hơn, người trong nhóm biết nhau, dễ hẹn gặp, dễ đổi đàn.
Nhóm hàng xóm trong xã. Cùng mùa hoa, cùng thời tiết, kinh nghiệm dùng được ngay.
Buổi học thực hành tại trại. Người mới được mở hộp dưới mắt người cũ. Đây là chỗ kiến thức được kiểm chứng bằng tay.
Buổi gặp mặt theo mùa. Hẹn nhau vào mùa tách đàn, mang ảnh, mang sổ ghi, có khi mang đàn đi đổi.
Đi thăm trại nhau. Nhìn trại người khác đặt hộp, che nắng, chống kiến thế nào thường dạy nhiều hơn đọc.
Tổ hợp tác, nhóm sản xuất. Một số nơi gom lại để cùng làm nhãn, cùng kiểm nghiệm, cùng giữ chuẩn.
Nhóm cứu đàn. Người trong nhóm báo nhau khi có cây sắp đốn, nhà sắp phá có tổ ong.
Kênh chia sẻ video của người nuôi. Xem được thao tác thật, nhưng cần tỉnh táo vì có kênh vì lượt xem mà nói quá.
Nhóm phụ huynh, giáo viên. Đưa ong dú vào trường, vào buổi ngoại khoá.
Liên hệ với người nuôi nước ngoài. Một số người đã trao đổi với cộng đồng ong không ngòi ở các nước láng giềng.
Những thứ làm cộng đồng mạnh hay tan
Chia sẻ cả thất bại. Nhóm mà người ta dám kể đàn chết vì sao thì học được nhiều nhất.
Có người làm đầu mối. Một người giữ lịch, giữ sổ, nhắc hẹn. Thiếu người này nhóm dễ rã.
Có quy tắc về rao bán. Cho rao bán thoải mái thì nhóm hỏi đáp thành chợ, người hỏi thật bỏ đi.
Kiểm soát lời quảng cáo mật chữa bệnh. Mật ong dú là thực phẩm. Nhóm để lan tin chữa bệnh là đẩy người đọc vào rủi ro.
Tôn trọng người mới. Câu hỏi ngây ngô bị chê thì người mới im lặng, rồi tự làm sai.
Ghi lại kiến thức đã thống nhất. Một bài tổng hợp chung giúp khỏi trả lời đi trả lời lại một câu.
Có dịp gặp mặt thật. Gặp nhau, mở hộp cùng nhau tạo lòng tin mà nhắn tin không làm được.
Tranh cãi về loài, về cách làm. Bình thường, miễn là cãi bằng ảnh, bằng ghi chép, không bằng giọng to.
Thương mại hoá quá nhanh. Khi giá đàn lên, nhiều người vào chỉ để buôn, đàn rừng bị gom mạnh.
Thông tin sai lan nhanh. Một mẹo sai được chia sẻ nghìn lần có thể làm chết nhiều đàn. Cần người kiểm lại.
Chia rẽ vùng miền. Mỗi vùng một điều kiện. Cách làm miền Tây không sai, chỉ không hợp Tây Bắc, và ngược lại.
Người mới nên tham gia và đóng góp thế nào
Bắt đầu bằng việc đọc nhiều hơn nói. Mỗi nhóm có những câu hỏi lặp lại, có những người trả lời đáng tin hơn. Đọc vài tuần sẽ thấy ai hay đưa ảnh, đưa lý do; ai chỉ khẳng định suông. Học theo người đầu.
Khi hỏi, hỏi cho đủ: mình ở vùng nào, mùa này hoa gì, đàn nuôi bao lâu, ảnh cửa tổ và ảnh bên trong hộp nếu có. Câu hỏi đủ thông tin nhận được câu trả lời đúng hơn hẳn câu hỏi chung chung kiểu “ong em bị sao vậy”.
Đóng góp không cần phải là người giỏi. Ghi chép đều đặn đàn của mình rồi chia sẻ sau một mùa là thông tin quý với cả nhóm. Báo cho nhóm khi thấy cây có tổ sắp bị đốn. Cho người khác một đàn tách dư thay vì bán. Những việc đó nhỏ nhưng làm cộng đồng dày lên.
Và nếu có điều kiện, hãy đi một buổi thực hành tại trại. Nhiều điều đọc mãi không hiểu, mở hộp một lần là thấy. Gặp người thật cũng giúp mình biết sau này hỏi ai khi đàn có chuyện.
Khác biệt vùng miền cần biết khi trao đổi
Tên gọi khác nhau. Có nơi gọi ong dú, nơi gọi ong vú, có nơi gọi ong muỗi. Hỏi loài thì gửi ảnh, đừng chỉ nói tên.
Mùa hoa khác nhau. Mùa rộ ở miền Tây không trùng Tây Nguyên hay miền Bắc. Lời khuyên “tháng này tách đàn” chỉ đúng cho từng vùng.
Mùa khô, mùa mưa khác nhau. Nam Bộ và Tây Nguyên có mùa khô rõ, miền Bắc có mùa lạnh. Cách giữ đàn khác hẳn.
Loài phổ biến khác nhau. Loài hay gặp ở đồng bằng chưa chắc đã có trên núi.
Kiểu tổ hoang khác nhau. Đồng bằng nhiều tổ trong cột nhà, tường. Vùng núi nhiều tổ trong cây rừng, vách đá.
Thiên địch khác nhau. Có vùng kiến là nỗi lo chính, vùng khác lại là ruồi, là thằn lằn.
Tập quán lấy mật khác nhau. Mỗi dân tộc có cách riêng, đáng được học hỏi chứ không nên chê.
Mức dùng thuốc trong vùng khác nhau. Vùng chuyên canh phun nhiều cần cách đặt trại khác vùng rừng.
Độ ẩm mật khác nhau. Mật vùng ẩm thường loãng hơn. So sánh mật giữa các vùng phải tính tới điều này.
Cách đóng hộp khác nhau. Mỗi vùng ưa một kiểu hộp. Không có kiểu nào đúng cho cả nước.
Mức sẵn có của đàn giống. Có nơi dễ có đàn, có nơi rất hiếm. Chia sẻ giữa các vùng phải cẩn trọng về loài.
Câu hỏi thường gặp
Có hội nuôi ong dú chính thức ở Việt Nam không?
Hiện phần lớn người nuôi kết nối qua nhóm tự phát, tổ hợp tác và các trại. Nếu muốn tìm một tổ chức chính thức ở địa phương, hỏi hội nông dân hoặc phòng kinh tế xã là cách nhanh nhất.
Làm sao biết thông tin trong nhóm nuôi ong là đúng?
Tin hơn những câu trả lời có ảnh, có lý do và có người khác xác nhận từ kinh nghiệm thật. Với câu hỏi về sức khoẻ khi dùng mật thì hỏi bác sĩ, không hỏi nhóm nuôi ong.
Người mới có nên mua đàn trong nhóm mạng xã hội không?
Có thể, nhưng nên hỏi rõ nguồn gốc đàn, xem đàn trực tiếp nếu được, và ưu tiên người ở gần để dễ hỏi lại sau này.
Tự lập một nhóm nuôi ong dú trong xã cần gì?
Chỉ cần vài người cùng nuôi, một người làm đầu mối và một lịch gặp đều đặn. Nên thống nhất từ đầu vài quy tắc như chia sẻ thật, không rao bán tràn lan, báo kết quả khi đổi đàn.
Cộng đồng có giúp gì khi đàn ong gặp sự cố?
Có. Người gần có thể tới xem tận nơi, nhóm có thể chia đàn dự trữ khi mất đàn, và kinh nghiệm của người từng gặp chuyện tương tự giúp mình xử lý nhanh hơn.