OngDu.org
Chất lượng và an toàn sản phẩm

Đọc phiếu kết quả kiểm nghiệm mật ong dú thế nào?

Đọc phiếu kiểm nghiệm mật ong dú theo thứ tự: kiểm thông tin mẫu, xem từng chỉ tiêu với đơn vị và phương pháp, so với ngưỡng áp dụng, rồi tách hai loại "không đạt": loại do bản chất mật ong dú và loại báo lỗi thật về an toàn.

Người nuôi ong và cán bộ kỹ thuật trao đổi bên bàn có tập hồ sơ đóng

Đọc phiếu kiểm nghiệm mật ong dú nên đi theo bốn bước: kiểm phần thông tin mẫu có đúng lô mình gửi không; xem từng chỉ tiêu cùng đơn vị và phương pháp; so con số với ngưỡng mà phiếu áp dụng; rồi tách hai loại “không đạt”: loại do bản chất mật ong dú, như độ ẩm và độ chua cao, và loại báo lỗi an toàn thật, như vi sinh, kim loại nặng, dư lượng thuốc.

“Phiếu ghi toàn số với ký hiệu, đọc không hiểu, chỉ thấy chữ Không đạt là run.” Đây là câu bà con hay nói nhất khi lần đầu cầm phiếu kết quả. Phiếu kiểm nghiệm viết cho người trong ngành, nhưng không khó đọc nếu biết mỗi cột nói gì.

Bài này đi từ trên xuống dưới một phiếu kết quả điển hình, giải thích những ký hiệu hay gặp và cách tự đánh giá mà không hoảng.

Các phần trên một phiếu kết quả và cần xem gì ở mỗi phần

Tên và thông tin phòng kiểm nghiệm. Xem có ký hiệu công nhận năng lực không, thường là VILAS ở Việt Nam. Phiếu từ phòng được công nhận có giá trị hơn khi làm việc với đối tác.

Tên mẫu, mã mẫu. Đối chiếu với nhãn mình ghi khi gửi. Sai tên, sai mã là phải đề nghị sửa ngay.

Ngày nhận mẫu, ngày thử nghiệm. Khoảng cách giữa ngày lấy mẫu và ngày thử giúp hiểu vì sao vi sinh có thể cao hơn thực tế.

Tình trạng mẫu khi nhận. Một số phiếu ghi mẫu còn nguyên niêm phong, mẫu có bọt, mẫu bị rò. Đọc kỹ dòng này.

Tên chỉ tiêu. Ví dụ độ ẩm, HMF, tổng vi sinh vật hiếu khí, chì. Mỗi dòng là một phép đo riêng.

Đơn vị. Phần trăm, mg/kg, CFU/g. Cùng một con số mà khác đơn vị là khác hẳn ý nghĩa. Đừng so số mà quên đơn vị.

Phương pháp thử. Ghi số hiệu phương pháp. Mình không cần thuộc, nhưng khi so hai phiếu, nên xem có cùng phương pháp không.

Kết quả. Con số đo được, hoặc ký hiệu như “KPH”, “nhỏ hơn” một con số.

Giới hạn phát hiện. Mức thấp nhất máy hoặc phương pháp nhận ra được. Kết quả “nhỏ hơn giới hạn phát hiện” nghĩa là không thấy ở mức đó, không có nghĩa là bằng không tuyệt đối.

Ngưỡng hoặc mức tối đa. Một số phiếu ghi ngưỡng tham chiếu theo tiêu chuẩn đã chọn. Xem ngưỡng đó áp cho loại mật nào.

Đánh giá đạt hay không đạt. Có phiếu ghi, có phiếu không. Đánh giá phụ thuộc ngưỡng áp dụng, nên phải xem ngưỡng trước khi tin chữ đạt hay không đạt.

Chữ ký, dấu và ghi chú cuối phiếu. Thường có câu “kết quả chỉ có giá trị trên mẫu thử”. Câu này nhắc rằng phiếu nói về mẫu, không tự động nói về mọi lô khác.

Hai loại “không đạt” cần tách bạch

Hãy tưởng tượng phiếu ghi: độ ẩm không đạt, độ axit không đạt, diastase không đạt, vi sinh đạt, chì không phát hiện. Nhìn ba chữ không đạt, người mới dễ nghĩ mẻ mật này hỏng. Thật ra, với mật ong dú, ba chỉ tiêu đầu thường “không đạt” khi đem so với ngưỡng của mật ong Apis. Mật ong dú vốn loãng, chua, enzyme khác. Đó là bản chất loài, không phải lỗi.

Loại “không đạt” thứ hai mới đáng lo: vi sinh gây bệnh, coliform cao, kim loại nặng vượt mức, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật hay kháng sinh. Những chỉ tiêu này không có ngoại lệ cho mật ong dú. Mật loãng là đặc tính, nhưng mật nhiễm chì là vấn đề ở loài ong nào cũng thế.

Cách làm thực tế là kẻ hai cột trên một tờ giấy. Cột thứ nhất ghi các chỉ tiêu đặc tính loài: độ ẩm, độ chua, pH, diastase, có thể cả tỷ lệ đường. Cột thứ hai ghi các chỉ tiêu an toàn: vi sinh, kim loại, dư lượng. Cột một thì so với chính mật của trại qua các lần kiểm, xem có lệch bất thường không. Cột hai thì phải đạt, không bàn cãi.

Nếu đối tác hay cơ quan quản lý đòi đạt ngưỡng mật ong thường cho cột một, đây là chuyện cần trao đổi, giải thích, và hỏi đúng quy định đang áp cho mật ong dú. Đừng tìm cách “làm đẹp” con số bằng cách gửi mẫu khác với hàng bán.

Gặp từng kết quả bất thường thì nghĩ tới đâu

Độ ẩm cao hơn hẳn các lần trước. Xem thời tiết lúc khai thác, có rút bình chưa đóng nắp không, dụng cụ có ướt không.

Độ axit tăng mạnh. Thường là mật đã lên men. Xem ngày khai thác tới ngày gửi mẫu, điều kiện bảo quản.

HMF cao. Mật từng bị nóng, để nơi nắng hoặc đã cũ. Xem lại cách giữ mật, có đun hay phơi không.

Sucrose cao. Xem có cho ong ăn nước đường trong thời gian gần khai thác không. Nếu có, mật đó có thể lẫn đường cho ăn.

Nấm men, nấm mốc cao. Khâu khai thác đưa men vào, hoặc mật đã bắt đầu lên men. Xem lại vệ sinh dụng cụ và độ ẩm.

Coliform, E. coli có mặt. Dấu hiệu vệ sinh kém: tay, nước rửa, dụng cụ. Không bán lô này, xem lại toàn bộ quy trình.

Chất rắn không tan cao. Lọc chưa kỹ, lẫn sáp vụn, phấn.

Chì cao. Xem vật chứa kim loại, sơn hộp, vị trí trại gần đường lớn.

Cadimi, asen cao. Xem nguồn nước ong uống, đất xung quanh, khu công nghiệp gần trại. Cần hỏi chuyên môn môi trường.

Phát hiện dư lượng thuốc bảo vệ thực vật. Xem vườn xung quanh phun gì, lúc nào. Trao đổi với hàng xóm về giờ phun, cân nhắc dời trại trong mùa phun.

Kết quả lệch rất xa so với mọi lần trước. Có khả năng do mẫu. Kiểm lại bằng mẫu lưu trước khi kết luận.

Biến phiếu kết quả thành bài học cho trại

Một phiếu kết quả đơn lẻ là một tấm ảnh chụp. Nhiều phiếu qua nhiều mùa là một bộ phim, cho thấy trại mình đang đi lên hay đi xuống. Nên giữ tất cả phiếu trong một bìa hồ sơ, xếp theo thời gian, kèm sổ ghi chép mỗi lô.

Sau vài lần kiểm, mình sẽ biết “khoảng bình thường” của mật trại mình: độ ẩm thường dao động trong khoảng nào vào mùa khô, mùa mưa; độ chua thường tới đâu. Từ đó, khi có một mẻ lệch, mình nhận ra ngay.

Dùng phiếu để cải tiến, đừng chỉ dùng để khoe. Nếu vi sinh cao, thay đổi cách khai thác rồi kiểm lại xem có giảm không. Nếu độ ẩm cao, thử chỉ rút bình đã đóng nắp, thử khai thác mùa khô, rồi so. Mỗi thay đổi một lần, để biết thay đổi nào có tác dụng.

Khi giải thích với khách, có thể chia sẻ phiếu, nhưng nói kèm ngữ cảnh: mật ong dú loãng hơn và chua hơn mật ong thường, nên vài chỉ tiêu lý hoá khác ngưỡng mật ong thường; còn các chỉ tiêu an toàn thì đạt. Nói thật, nói rõ, khách sẽ tin hơn một tờ phiếu chỉ có chữ đạt.

Những ai muốn đọc phiếu thạo hơn, cách nhanh nhất là ngồi đọc cùng người có chuyên môn vài lần. Ở các buổi thực hành, cầm phiếu thật của trại mình mang tới hỏi luôn là cách học nhớ lâu nhất.

Những hiểu lầm hay gặp khi cầm phiếu kết quả

“Không phát hiện” là chắc chắn sạch tuyệt đối. Chỉ đúng ở mức giới hạn phát hiện của phương pháp. Phương pháp khác nhạy hơn có thể thấy một lượng rất nhỏ.

Đạt một lần là đạt mãi. Phiếu chỉ nói về mẫu đã gửi. Mùa sau, nguồn hoa khác, cách làm khác thì kết quả có thể khác.

Số càng thấp càng tốt với mọi chỉ tiêu. Đúng với vi sinh, kim loại, dư lượng. Không đúng với độ ẩm, đường hay độ chua, vốn là đặc tính mật.

So số với phiếu của trại khác là biết ai hơn ai. Mỗi trại khác loài ong, vùng, mùa, phương pháp thử. So như vậy dễ sai. So với chính mình qua thời gian thì có ích hơn.

Phiếu đẹp nghĩa là mật ngon. Phiếu không đo hương vị. Mật an toàn mà khai thác lúc mưa vẫn có thể nhạt.

Diastase thấp nghĩa là mật đã bị nấu. Với mật ong thường thì có thể. Với mật ong dú, mức thấp có thể là bản chất, cần xem thêm HMF và cách bảo quản.

Độ ẩm cao nghĩa là pha nước. Mật ong dú tự nhiên đã loãng. Muốn nghi pha nước phải có thêm bằng chứng, như độ ẩm lệch hẳn so với các lần trước của chính trại.

Coliform thấp mà có mặt thì không sao. Sự có mặt của vi khuẩn chỉ điểm là tín hiệu nên xem lại vệ sinh, dù con số nhỏ.

Phòng nào cũng cho kết quả như nhau. Phương pháp, thiết bị khác nhau cho kết quả hơi khác. Khi so phải xem cùng phương pháp.

Kết quả xấu là phải bỏ cả trại. Thường chỉ cần sửa một khâu: dụng cụ, vị trí đặt hộp, thời điểm khai thác. Tìm đúng nguyên nhân rồi kiểm lại.

Phiếu có thể thay lời giải thích với khách. Khách không đọc được phiếu như người trong ngành. Một câu giải thích rõ ràng đi kèm phiếu có tác dụng hơn.

Câu hỏi thường gặp

KPH trên phiếu kiểm nghiệm nghĩa là gì?

KPH là viết tắt của “không phát hiện”, nghĩa là ở giới hạn phát hiện của phương pháp, không thấy chất đó. Không có nghĩa tuyệt đối là bằng không, nhưng là kết quả tốt với các chỉ tiêu như kim loại nặng, dư lượng.

CFU/g là đơn vị gì?

Là số đơn vị khuẩn lạc trên một gam mẫu, dùng cho chỉ tiêu vi sinh. Con số càng nhỏ thì mẫu càng ít vi sinh mọc được trên môi trường nuôi cấy.

Phiếu không ghi đạt hay không đạt thì sao?

Nhiều phòng chỉ trả số liệu, phần đánh giá để người dùng tự so với quy định áp dụng. Khi đó cần biết mình đang áp ngưỡng nào, hỏi lại cơ quan quản lý hoặc chính phòng kiểm nghiệm.

Có nên sửa số liệu trên phiếu cho đẹp?

Tuyệt đối không. Sửa phiếu là làm giả giấy tờ, gây hậu quả pháp lý và mất lòng tin. Nếu số liệu chưa tốt, hãy sửa quy trình rồi kiểm lại.

Một phiếu kiểm nghiệm dùng cho nhiều lô được không?

Phiếu chỉ có giá trị cho mẫu đã thử. Đối tác có thể chấp nhận phiếu đại diện trong một khoảng thời gian, nhưng mỗi lô mới về nguyên tắc có thể khác.

Không hiểu một chỉ tiêu thì hỏi ai?

Hỏi thẳng phòng kiểm nghiệm đã làm, họ có trách nhiệm giải thích kết quả. Cán bộ khuyến nông, cán bộ quản lý chất lượng ở địa phương cũng là nơi hỏi được.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, ban biên tập sẽ liên hệ lại với bạn.