OngDu.org
Mô hình trại ong dú

Trại ong dú ven rừng: lợi thế và trách nhiệm giữ rừng

Trại ong dú ven rừng có lợi thế lớn về nguồn hoa, nhựa cây và khí hậu mát, nhưng đi kèm trách nhiệm: không chặt cây bắt đàn, không gây cháy, tôn trọng quy định về rừng và giữ đàn hoang cho rừng.

Chòi gỗ mép rừng có hàng hộp ong dú trên giá, người giữ rừng đội mũ tai bèo

Trại ong dú ven rừng có lợi thế mà trại đồng bằng khó có: nguồn hoa đa dạng quanh năm, nhiều nhựa cây cho ong làm tổ, khí hậu mát dưới tán. Đi kèm là trách nhiệm: không chặt cây để bắt đàn, không gây cháy, làm đúng quy định về đất rừng, và giữ cho đàn hoang trong rừng còn sống. Trại ven rừng mà làm hại rừng là tự cắt nguồn sống của chính mình.

Ở nhiều vùng trung du, miền núi, người dân vào rừng gặp tổ ong dú trong hốc cây thường cưa cả khúc gỗ mang về. Một đàn về nhà, một cây trong rừng mất, và có khi đàn cũng chết sau vài tháng. Bài này nói về một cách làm khác.

Rừng cho trại ong những gì?

Rừng tự nhiên có nhiều loài cây ra hoa nối nhau quanh năm. Cây gỗ lớn, cây bụi, dây leo, cỏ dưới tán, mỗi loài một mùa. Trại ven rừng ít gặp những tháng đói hoa kéo dài như trại giữa vùng trồng một loại cây.

Ong dú cần nhựa cây để làm tổ. Chúng trộn nhựa với sáp để làm vách, làm bình, làm ống cửa, và dùng nhựa dính để chặn kiến. Rừng có nhiều cây tiết nhựa, đàn ong không phải đi xa tìm. Đàn có đủ nhựa thường xây tổ chắc và tự vệ tốt hơn.

Khí hậu dưới tán rừng mát và ổn định hơn ngoài trống. Hộp ong đặt ở mép rừng, có bóng cây che trưa, tránh được nắng gắt mùa khô. Nhiệt độ ít dao động giữa ngày và đêm cũng tốt cho khu ấu trùng.

Rừng còn là nơi có đàn hoang. Đàn hoang là nguồn gen tự nhiên của ong dú trong vùng. Trại ven rừng có thể có thêm đàn mới tự tới làm tổ trong hộp mồi đặt sẵn, thay vì phải chặt cây bắt đàn.

Những thách thức của trại ven rừng

Kẻ thù tự nhiên nhiều hơn. Kiến rừng, thằn lằn, nhện, chim ăn côn trùng, có nơi có cả thú nhỏ phá tổ. Giá hộp phải chắc, chặn kiến kỹ.

Ẩm hơn. Dưới tán rừng mùa mưa rất ẩm. Hộp dễ mốc, gỗ dễ mục. Chọn chỗ thoáng, giá cao, mái che.

Đường đi khó. Mùa mưa đường vào mép rừng trơn lầy. Hộp đặt xa đường là hộp ít được kiểm.

Trộm và phá. Chỗ vắng người thì dễ mất hộp. Đặt gần chòi có người ở hoặc nhờ người giữ rừng để mắt.

Ít ánh nắng sớm. Tán quá dày thì sáng muộn, ong ra muộn. Chọn mép rừng có nắng sớm và bóng trưa.

Ranh giới đất không rõ. Đất ven rừng có khi là đất lâm nghiệp, đất giao khoán, đất cộng đồng. Hỏi rõ trước khi đặt hộp.

Cháy rừng mùa khô. Lửa đốt rẫy, đốt rác lan vào là mất cả trại lẫn rừng.

Lá rụng và cành gãy. Mùa gió, cành khô rơi xuống hộp. Không đặt hộp dưới cành khô, cây mục.

Khó bán mật ở xa. Trại xa khu dân cư thì việc vận chuyển và bảo quản mật khó hơn.

Nhầm loài ong. Rừng có nhiều loài ong dú, có loài hiền có loài hăng, có loài ít mật. Đừng gom đàn bất kỳ về nuôi.

Người lạ vào rừng thấy hộp ong. Hộp ong ven rừng có thể khuyến khích người khác vào rừng tìm đàn. Giữ kín đáo và nói rõ quan điểm không chặt cây.

Trách nhiệm giữ rừng của người nuôi

Điều đầu tiên là không chặt cây để bắt đàn. Một đàn ong dú hoang có thể đã sống trong hốc cây đó nhiều năm. Cưa khúc gỗ mang về là mất cây, và đàn mang về chưa chắc sống. Nếu thật cần đàn từ rừng, chỉ nên lấy đàn từ cây đã đổ, cây bị chặt hợp pháp vì lý do khác, và vẫn cần hỏi người quản lý rừng.

Cách thay thế là đặt hộp mồi. Hộp mồi là hộp nhỏ có sẵn chút sáp, nhựa từ đàn cũ, đặt ở chỗ đàn hoang hay lui tới. Đàn con tách tự nhiên có thể chọn hộp mồi làm nhà. Cách này chậm, không chắc, nhưng không hại rừng.

Điều thứ hai là lửa. Nuôi ong dú không cần hun khói nhiều như ong mật. Đừng mang thói quen đốt rơm, đốt lá vào mép rừng mùa khô. Rác sáp, hộp hỏng mang ra khu dân cư xử lý, không đốt tại chỗ.

Điều thứ ba là quy định. Đặt trại trên đất lâm nghiệp, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng đều có quy định riêng. Có nơi được phép kết hợp nuôi ong dưới tán với điều kiện nhất định, có nơi không. Hỏi cán bộ kiểm lâm, ban quản lý rừng hoặc cán bộ xã trước khi dựng chòi, dựng giá.

Điều cuối cùng là chia sẻ. Trại ven rừng có thể là nơi giữ giống ong dú bản địa, cung cấp đàn tách cho bà con xung quanh để họ không vào rừng bắt. Đây là cách trại ong góp phần giữ rừng chứ không chỉ sống nhờ rừng.

Bố trí trại ven rừng cho hợp

Đặt ở mép rừng, không sâu trong rừng. Mép rừng có nắng sớm, đường đi, gần người. Sâu trong rừng khó canh, dễ ảnh hưởng hệ sinh thái.

Gần chòi có người. Chòi giữ rẫy, chòi giữ rừng có người qua lại giúp canh hộp.

Giá cao, chặn kiến kỹ. Chân giá có chén nước hoặc dầu, thường xuyên kiểm vì kiến rừng rất nhiều.

Mái che riêng cho dãy hộp. Mái tôn hoặc lá trên dãy giá giúp chống mưa và lá rụng.

Dọn sạch quanh giá nhưng không phát trắng. Phát cỏ quanh chân giá cho thoáng, giữ cây bụi xung quanh.

Đường băng cản lửa quanh khu. Một dải đất sạch lá khô quanh khu hộp mùa khô giúp chặn lửa lan.

Hộp vách dày. Chịu ẩm và giữ nhiệt tốt hơn trong điều kiện rừng.

Ghi loài ong từng hộp. Rừng có nhiều loài, ghi rõ để biết loài nào hợp nuôi ở đây.

Đặt hộp mồi xa khu chính. Hộp mồi rải ở vài điểm, kiểm định kỳ, thấy có đàn vào thì để yên một thời gian mới chuyển.

Khu sơ chế mật ngoài rừng. Lấy mật xong mang về nơi sạch xử lý, không để mật rơi ven rừng kéo thú và kiến.

Báo người giữ rừng biết. Người quản lý rừng biết có trại ong thì cũng giúp để mắt.

Mùa nào ở ven rừng khó nhất cho đàn ong?

Nhiều người nghĩ ven rừng thì lúc nào cũng đủ ăn. Thật ra trại ven rừng cũng có mùa khó, chỉ là khó theo kiểu khác trại đồng bằng. Hiểu mùa khó của trại mình thì mới biết lúc nào nên để yên, lúc nào nên tách, lúc nào được lấy mật.

Mùa mưa dầm là mùa khó nhất ở nhiều vùng rừng. Mưa kéo dài nhiều ngày, ong không bay được, đàn ăn dần dự trữ. Độ ẩm cao làm bình phấn dễ mốc, gỗ hộp ngấm nước. Nếu trước mùa mưa đã lấy mật quá tay, đàn bước vào mùa mưa với kho rỗng và sẽ suy rất nhanh.

Mùa khô ở rừng thưa, rừng khộp thì khó theo kiểu khác: cây rụng lá, hoa ít, nắng xuyên tán, nguy cơ cháy cao. Đàn cần nước và bóng mát hơn bình thường. Đây là mùa phải canh lửa và canh nước, không phải mùa mở hộp nhiều.

Vùng núi cao còn có những đợt rét. Đàn ong dú nhiệt đới chịu lạnh kém, hộp vách mỏng đặt chỗ hứng gió thì khu ấu trùng có thể bị lạnh. Che gió phía bắc, đặt hộp chỗ đón nắng sớm, đừng mở hộp vào những ngày rét.

Ghi lại mùa khó của trại mình qua một hai năm. Mỗi khu rừng một khác, và chính cuốn sổ đó là thứ quý nhất mà một trại ven rừng tích luỹ được, quý hơn bất cứ lời khuyên chung nào.

Câu hỏi thường gặp

Nuôi ong dú trong đất rừng có được không?

Tuỳ loại rừng và quy định ở từng nơi. Có khu cho phép kết hợp nuôi ong dưới tán, có khu cấm. Hỏi cán bộ kiểm lâm hoặc ban quản lý rừng trước.

Lấy đàn ong dú từ rừng có vi phạm gì không?

Chặt cây trong rừng để bắt đàn có thể vi phạm quy định bảo vệ rừng. Dùng hộp mồi hoặc lấy đàn từ cây đã đổ hợp pháp là cách an toàn hơn, vẫn nên hỏi người quản lý rừng.

Mật ong dú rừng có tốt hơn mật ong dú nuôi không?

Mật từ nguồn hoa rừng có mùi vị riêng, nhưng không thể nói chắc là tốt hơn về sức khoẻ. Mật ong dú dù từ đâu cũng là thực phẩm, không phải thuốc.

Trại ven rừng có cần nhiều hộp mới có lời không?

Không nên nghĩ theo hướng nhiều hộp là có lời. Nguồn hoa rừng phong phú nhưng công canh giữ, đi lại cũng cao. Bắt đầu nhỏ và theo dõi.

Ong dú nuôi có cạnh tranh với ong hoang trong rừng không?

Đặt quá nhiều hộp một chỗ có thể chia bớt nguồn hoa với các loài thụ phấn khác. Trại vừa phải và rải điểm giúp giảm áp lực này.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, ban biên tập sẽ liên hệ lại với bạn.