Đồng bào nhiều dân tộc ở vùng núi Việt Nam có một kho kinh nghiệm về ong dú được truyền miệng qua nhiều đời: cách nhìn đường bay để lần ra tổ, cách đọc mùa qua hoa rừng, cách lấy mật mà tổ vẫn còn, cách dùng sáp và nhựa ong trong việc nhà. Kho kinh nghiệm đó quý vì nó đã được thử qua thời gian dài trên chính đất này, và đang mất dần cùng người già.
Người nuôi ong dú ở đồng bằng hay hỏi: “Sách nước ngoài nói vậy, ở mình có đúng không?”. Câu trả lời nhiều khi đã nằm sẵn trong đầu một cụ già ở bản. Bài này nói về những gì tri thức bản địa có thể dạy, và cách học sao cho tôn trọng người giữ nó.
Tri thức bản địa là gì, và vì sao khác với sách
Tri thức bản địa là những điều một cộng đồng biết được qua sống lâu đời với thiên nhiên quanh mình, truyền lại bằng lời, bằng việc làm, bằng tục lệ. Nó không ghi thành bảng số liệu, nhưng đã được “kiểm nghiệm” bằng hàng trăm mùa ong, hàng trăm lần đúng sai.
Sách vở về ong không ngòi phần lớn được viết ở những nước khác, với loài khác, mùa khác. Người già trong bản thì biết đúng loài ong ở khe núi sau nhà, biết năm nào cây rừng ra hoa sai, năm nào thất. Hai nguồn này bổ sung nhau: sách giải thích cơ chế, người già cho biết điều gì thật sự xảy ra ở đây.
Cũng phải nói thẳng: tri thức bản địa có chỗ chưa đúng hoặc chưa đủ, như bất kỳ kho kiến thức nào. Có những lời truyền về mật chữa bệnh chưa có cơ sở. Có những cách lấy mật cũ làm chết đàn. Tôn trọng không có nghĩa là tin hết. Tôn trọng là lắng nghe kỹ, hỏi lại lý do, rồi đối chiếu.
Điều đáng lo là kho này mất nhanh. Người trẻ đi làm xa, rừng gần bản thưa đi, ít ai còn đi tìm tổ. Khi người già cuối cùng biết đọc đường bay của ong mất đi, thứ đó không có sách nào giữ lại.
Những gì người già trong bản thường biết về ong dú
Tìm tổ theo đường bay. Đứng ở nơi ong lấy nước hay hút hoa, nhìn hướng ong bay về, đi theo từng chặng. Đây là kỹ năng cần mắt quen và kiên nhẫn.
Nhận tổ qua cửa. Phân biệt các loài qua hình dạng, màu sắc ống cửa tổ, biết loài nào nhiều mật, loài nào hay cắn.
Đọc mùa qua hoa rừng. Biết cây nào nở thì ong có mật, cây nào nở thì ong chỉ đủ ăn.
Đoán sức đàn từ bên ngoài. Nghe tiếng ong trong hốc, nhìn ong ra vào, đoán tổ có đáng mở không.
Lấy mật mà giữ tổ. Nhiều nơi có lệ chỉ lấy một phần, chừa lại cho ong, không lấy tổ non.
Đánh dấu tổ của ai. Có cộng đồng có tục đánh dấu cây có tổ để người khác biết đã có chủ trông nom.
Dùng sáp, nhựa ong. Ở một số nơi, sáp và nhựa ong dú được dùng để trét, gắn, bịt kín đồ dùng trong nhà.
Kiêng cữ quanh tổ. Những điều kiêng như không chặt cây có tổ, không lấy mật vào mùa nhất định, nhiều khi chứa một lý lẽ giữ đàn.
Tên gọi theo tiếng dân tộc. Mỗi dân tộc gọi các loại ong bằng tên riêng, nhiều khi phân biệt kỹ hơn cách gọi chung của người Kinh.
Thời điểm lấy mật trong ngày. Biết giờ nào ong ít hung, giờ nào mật đặc hơn, kinh nghiệm này tích qua nhiều lần làm.
Cách đựng, giữ mật. Ống tre, quả bầu khô và các vật đựng truyền thống, kèm kinh nghiệm để mật lâu hỏng.
Vì sao tri thức này đáng giữ với cả người nuôi ở đồng bằng
Nó đúng với loài ong ở đây. Kinh nghiệm được tích trên chính loài ong bản địa, không phải loài ở nước khác.
Nó cho biết lịch sử vùng. Người già kể ngày xưa tổ nhiều ở đâu, giúp biết quần thể đã thay đổi ra sao.
Nó chứa các luật giữ đàn. Lệ chừa mật, kiêng chặt cây có tổ là những luật bảo tồn có từ trước khi có chữ bảo tồn.
Nó gợi ý loài hợp nuôi. Người biết loài nào nhiều mật, hiền, dễ tìm cho mình điểm khởi đầu chọn giống.
Nó giúp nhận diện nhanh. Mắt người đi rừng lâu năm nhận ra loài nhanh hơn nhiều sách ảnh.
Nó nhắc về cây nguồn mật. Danh sách cây rừng có ích cho ong là thông tin trồng xen vườn rất quý.
Nó là văn hoá. Tên gọi, câu chuyện, tục lệ gắn với ong là một phần bản sắc của cộng đồng.
Nó tạo cầu nối. Người trẻ học nuôi ong có lý do để ngồi nghe ông bà kể chuyện.
Nó cho cách nhìn khác. Người bản địa thường xem ong là hàng xóm trong rừng chứ không chỉ là nguồn thu.
Nó giúp nghề có gốc. Nghề nuôi ong dú ở Việt Nam có chỗ dựa riêng thay vì chỉ chép mô hình nước ngoài.
Nó dễ mất nhất. Không ghi lại thì một thế hệ là hết. Đó là lý do phải bắt đầu ngay.
Học tri thức bản địa thế nào cho tôn trọng
Trước hết là xin phép. Không phải ai cũng muốn chia sẻ, và có những điều cộng đồng coi là riêng. Hỏi qua trưởng bản, qua người trong gia đình, nói rõ mình học để làm gì. Nếu được đồng ý ghi âm, quay phim thì mới làm.
Thứ hai là ghi công. Khi kể lại kinh nghiệm đã học, nói rõ học từ cộng đồng nào, từ người nào nếu họ đồng ý nêu tên. Đừng biến kinh nghiệm của người khác thành “bí quyết của mình” để bán khoá học hay bán sản phẩm.
Thứ ba là đối chiếu. Nghe người già nói rồi về thử trên đàn của mình, so với điều sách viết, hỏi thêm người khác. Điều nào khớp thì tin hơn, điều nào lệch thì hỏi lại lý do. Đặc biệt với các lời truyền về công dụng chữa bệnh của mật, phải giữ khoảng cách: đó là thực phẩm, sức khoẻ thì hỏi bác sĩ.
Cuối cùng là trả lại. Nếu tri thức giúp mình nuôi được ong, hãy nghĩ cách đem lại gì đó cho cộng đồng đã dạy mình: chia đàn giống, chia cách làm hộp, giúp con cháu họ học thêm. Học mà chỉ lấy đi thì lần sau cửa sẽ đóng.
Những sai lầm khi tiếp cận tri thức bản địa
Coi là mê tín. Nhiều tục kiêng nghe lạ nhưng chứa lý lẽ thực tế. Hỏi vì sao trước khi gạt đi.
Tin tuyệt đối. Không phải lời nào cũng đúng. Đối chiếu là tôn trọng, không phải nghi ngờ.
Lấy mà không xin. Quay phim người già lấy mật rồi đăng lên mạng không hỏi ý là thiếu tôn trọng.
Chỉ hỏi về mật. Tri thức về loài, về cây, về mùa thường quý hơn chuyện lấy được bao nhiêu mật.
Dùng để quảng cáo. Gắn “bí truyền dân tộc” lên nhãn mật để bán đắt là lạm dụng.
Đánh đồng các dân tộc. Mỗi cộng đồng một cách làm, đừng gộp thành “người dân tộc thì làm thế này”.
Hỏi dồn dập một lần. Kinh nghiệm thật lộ ra qua nhiều lần đi cùng, không phải một buổi phỏng vấn.
Ghi lại sai tên gọi. Tên ong theo tiếng dân tộc nên ghi đúng cách đọc, hỏi lại cho chắc.
Bỏ qua phụ nữ. Ở nhiều nơi, phụ nữ giữ phần kinh nghiệm về chế biến, cất giữ mật.
Lan truyền lời chữa bệnh. Ghi lại tập quán thì được, nhưng đừng biến nó thành lời khuyên điều trị.
Học xong là thôi. Không giữ liên lạc, không trả lại gì cho cộng đồng.
Câu hỏi thường gặp
Đồng bào dân tộc nào có kinh nghiệm về ong dú?
Ở nhiều vùng núi phía Bắc, Tây Nguyên và miền Trung, các cộng đồng sống gần rừng đều có kinh nghiệm về ong rừng, trong đó có ong dú. Mỗi nơi một cách gọi, cách làm riêng nên cách tốt nhất là hỏi trực tiếp người ở vùng đó.
Có nên ghi chép tri thức bản địa về ong thành sách không?
Nên, nếu có sự đồng ý của cộng đồng và ghi rõ nguồn. Bản ghi tốt nên giữ cả lời kể nguyên văn lẫn phần giải thích, và trả lại một bản cho chính cộng đồng đó.
Tục kiêng chặt cây có tổ ong có cơ sở không?
Xét về sinh học, ong dú cần hốc cây có sẵn và không thể bỏ tổ đi xa, nên giữ cây có tổ đúng là giữ đàn. Tục kiêng đó vì vậy trùng với điều người nuôi ong hiện nay khuyên.
Người trẻ trong bản có còn học cách tìm tổ ong không?
Ở nhiều nơi số người trẻ còn đi rừng tìm tổ ít dần. Đưa nghề nuôi ong dú vào bản và mời người già cùng dạy là một cách giữ kỹ năng đó sống tiếp.
Tri thức bản địa có giúp chọn loài ong để nuôi không?
Có. Người đi rừng lâu năm biết loài nào nhiều mật, hiền, tổ ở đâu, đó là gợi ý ban đầu tốt. Sau đó vẫn cần thử trên hộp và ghi chép để biết loài đó có hợp với cách nuôi hộp hay không.