Một tổ hợp tác hay hợp tác xã nuôi ong dú vận hành tốt khi mỗi nhà vẫn giữ đàn riêng, chăm riêng, nhưng làm chung những khâu mà một nhà làm một mình thì yếu: chuẩn chất lượng mật, đóng gói, bán hàng, và báo nhau lịch phun thuốc trong xóm. Gom đàn về một chỗ cho "làm chung" thường là bước đầu tiên dẫn tới tan nhóm.
Ở nhiều xã, người nuôi ong dú lẻ tẻ mỗi nhà vài hộp, mật ít, chai lọ mỗi nhà một kiểu, mật lúc đặc lúc loãng. Ai cũng thấy nên hợp lại. Nhưng hợp lại thế nào cho không cãi nhau thì ít ai nói kỹ. Bài này đi vào đúng chỗ đó.
Vì sao người nuôi ong dú nên hợp lại?
Mật ong dú ra ít và rải rác. Một nhà vài chục hộp, mỗi lần lấy được vài chai. Đem bán thì không đủ hàng để giao đều cho cửa hàng, không đủ để làm nhãn riêng, không đủ để gửi kiểm nghiệm cho từng mẻ. Gom mười nhà lại thì những việc đó mới có ý nghĩa.
Lý do thứ hai là thuốc. Ong dú bay gần nhưng vẫn qua ranh vườn. Một nhà nuôi ong mà hàng xóm phun thuốc đúng mùa hoa thì nhà đó chịu. Khi cả xóm cùng nuôi và cùng ở trong một tổ, chuyện báo nhau trước khi phun thành luật chung, có người nhắc, có người giữ.
Lý do thứ ba là kiến thức. Người nuôi lâu năm gặp đủ chuyện, người mới thì lúng túng. Trong tổ, người mới có chỗ hỏi, người cũ có chỗ dạy. Đàn hỏng ở nhà này được đàn khoẻ ở nhà kia cứu. Giống ong được chia sẻ trong nhóm thay vì mỗi nhà lên rừng bắt.
Nhưng hợp lại không tự động tốt hơn. Nhóm nào cũng sẽ gặp chuyện tiền, chuyện chất lượng không đều, chuyện người góp nhiều người góp ít. Vì vậy cần thiết kế từ đầu khâu nào làm chung, khâu nào giữ riêng.
Khâu nào làm chung, khâu nào giữ riêng?
Giữ riêng: đàn ong và việc chăm. Mỗi nhà chăm đàn của mình, chịu trách nhiệm đàn của mình. Gom đàn về một khu chung thường làm phát sinh chuyện ai chăm, ai chịu khi đàn chết.
Giữ riêng: hộp và giá. Mỗi nhà tự đầu tư, nhưng nên thống nhất kích thước hộp để tiện chia sẻ đàn và dụng cụ.
Làm chung: chuẩn chất lượng mật. Cả tổ thống nhất cách lấy mật, độ sạch, cách bảo quản, ngưỡng mật đạt để vào hàng chung.
Làm chung: kiểm tra mật trước khi gom. Có người hoặc nhóm nhỏ được giao kiểm từng mẻ mật nhà gửi vào, ghi rõ nhà nào, ngày nào.
Làm chung: đóng gói và nhãn. Một kiểu chai, một nhãn chung, có mã nhà nuôi trên nhãn để truy được mẻ nào của ai.
Làm chung: bán hàng. Một hai người lo liên hệ người mua, giao hàng, giữ khách. Mỗi nhà tự bán riêng song song thì dễ phá giá nhau.
Làm chung: thông tin thuốc trong xóm. Một nhóm nhắn tin để ai sắp phun thì báo. Nhóm này nên mời cả nhà vườn không nuôi ong.
Làm chung: dụng cụ đắt tiền. Máy đo độ ẩm mật, tủ bảo quản, dụng cụ lọc có thể mua chung, đặt ở một nơi, có sổ mượn.
Làm chung: học và đi học. Cử người đi học rồi về dạy lại. Mời người giỏi về nói chuyện cho cả tổ.
Làm chung: kho đàn dự phòng. Mỗi nhà góp một hai đàn khoẻ vào danh sách sẵn sàng chia khi có nhà mất đàn vì bão hay thuốc.
Giữ riêng: quyết định lấy mật bao nhiêu. Mỗi nhà tự biết đàn mình chịu được tới đâu. Tổ chỉ đặt chuẩn, không ép sản lượng.
Tổ hợp tác khác hợp tác xã ở chỗ nào?
Tổ hợp tác là hình thức lỏng hơn: vài nhà ký với nhau một hợp đồng hợp tác, thoả thuận làm chung việc gì, góp gì, chia thế nào. Không cần bộ máy lớn. Hợp với nhóm mới bắt đầu, muốn thử làm chung một hai khâu trước.
Hợp tác xã là một tổ chức có tư cách pháp lý, có điều lệ, có thành viên, có ban quản lý, có sổ sách kế toán. Lợi thế là đứng tên ký hợp đồng bán hàng, làm nhãn, xin chứng nhận, tiếp cận các chương trình hỗ trợ dễ hơn. Đổi lại là nhiều việc giấy tờ và trách nhiệm hơn.
Thủ tục cụ thể thay đổi theo luật và theo địa phương, nên đừng nghe kể rồi làm theo. Hỏi cán bộ kinh tế ở xã hoặc cơ quan phụ trách kinh tế tập thể của tỉnh về điều kiện thành lập, hồ sơ, nghĩa vụ báo cáo. Họ cũng thường biết các nhóm nghề khác trong vùng đã đi con đường nào.
Nhiều nhóm bắt đầu bằng tổ hợp tác, làm chung khâu bán hàng một hai năm, thấy chạy được rồi mới lên hợp tác xã. Con đường này chậm nhưng ít đổ vỡ, vì khi lên hợp tác xã, các nhà đã quen làm việc với nhau và đã cãi nhau xong những chuyện cần cãi.
Chia tiền và giữ lòng tin
Ghi rõ mật vào từ nhà nào. Mỗi mẻ mật vào kho chung có phiếu: nhà nào, ngày nào, bao nhiêu, kiểm đạt hay không.
Trả theo mật đạt chuẩn, không theo số hộp. Nhà nhiều hộp mà mật không đạt thì không được trả hơn nhà ít hộp mà mật đạt. Luật này phải nói từ đầu.
Tách quỹ chung rõ ràng. Phần trích lại cho chai lọ, nhãn, vận chuyển, kiểm nghiệm được ghi rõ tỷ lệ và công khai.
Sổ sách công khai cho thành viên. Ai cũng được xem sổ thu chi. Giấu sổ là cách nhanh nhất mất lòng tin.
Người cầm tiền khác người kiểm hàng. Tách hai việc cho hai người giúp tránh nghi ngờ.
Họp định kỳ, ngắn. Mỗi tháng hoặc mỗi quý một buổi, xem bán được bao nhiêu, có khiếu nại gì, mật nhà nào có vấn đề.
Xử lý mật hỏng công bằng. Mẻ mật lên men, có mùi lạ bị loại thì báo riêng cho nhà đó, chỉ cách sửa, không bêu trước nhóm.
Quy định rời nhóm. Ai rời nhóm thì quyết toán thế nào, nhãn chung còn được dùng không. Viết ra trước khi cần.
Không hứa giá với thành viên. Giá bán phụ thuộc thị trường. Ban quản lý hứa giá cao để kéo người vào là gieo mầm cãi nhau.
Ghi nhận người làm việc chung. Người bỏ công kiểm hàng, đóng gói, đi giao cần được trả công hoặc ghi nhận rõ, không coi là việc làm không.
Đừng để một người ôm hết. Nhóm phụ thuộc vào một người giỏi thì người đó mệt là nhóm đứng. Chia việc và dạy người thay.
Những chỗ hay vỡ khi nhóm lớn dần
Chất lượng không đều. Thành viên mới chưa quen chuẩn gửi mật kém vào, làm hỏng uy tín cả nhãn. Cần thời gian thử việc cho thành viên mới.
Bán riêng sau lưng nhóm. Khi có khách trả cao hơn, có nhà bán riêng. Nên thoả thuận rõ phần nào được bán riêng, phần nào giao nhóm.
Gom đàn về khu chung. Ý tưởng hay nghe hấp dẫn nhưng phát sinh chuyện chăm, chuyện mất. Nếu làm, phải có hợp đồng rõ ai chịu trách nhiệm.
Lấy mật quá tay để đủ hàng. Đơn hàng lớn khiến các nhà lấy mật nhiều hơn đàn chịu. Nhóm phải dám từ chối đơn vượt sức.
Bắt đàn rừng để tăng số hộp. Lên rừng bắt đàn ồ ạt hại rừng và gây tiếng xấu. Nhóm nên có quy định chỉ nhân đàn bằng tách.
Nhãn ghi quá đà. Nhãn hứa chữa bệnh hay ghi nguồn hoa không chắc là rủi ro pháp lý cho cả nhóm.
Ban quản lý không thay. Nhóm lâu năm mà một người giữ ghế mãi thì người khác ngại góp ý. Bầu lại định kỳ.
Thành viên bỏ không báo. Có nhà nghỉ nuôi mà vẫn đứng tên. Rà danh sách mỗi năm.
Tranh chấp với nhà vườn không nuôi ong. Nhóm lớn dễ đòi hỏi nhà vườn xung quanh. Giữ thái độ nhờ vả, không áp đặt.
Thiếu người trẻ. Nhóm toàn người lớn tuổi thì khó bán hàng qua mạng, khó làm sổ sách điện tử. Mời người trẻ vào làm khâu bán và ghi chép.
Lớn nhanh hơn khả năng quản lý. Kết nạp nhiều thành viên một lúc khi quy định chưa rõ là cách nhanh nhất để vỡ. Lớn từ từ.
Câu hỏi thường gặp
Bao nhiêu nhà thì nên lập tổ hợp tác ong dú?
Không có số tối thiểu cố định cho mọi trường hợp. Quan trọng hơn là các nhà ở gần nhau, cùng chuẩn mật và tin nhau. Vài nhà làm tốt hơn hai chục nhà làm lỏng lẻo.
Tổ hợp tác có cần tài khoản ngân hàng riêng không?
Nên có một cách giữ tiền chung minh bạch, có thể là tài khoản đứng tên người đại diện kèm sổ ghi chép công khai. Hỏi ngân hàng và cán bộ xã về cách phù hợp với hình thức của nhóm.
Có nên gom đàn của các nhà về một trại chung không?
Thường không nên ở giai đoạn đầu. Đàn để ở từng nhà thì trách nhiệm rõ, nguồn hoa phân tán, rủi ro thuốc hay bão không dồn vào một chỗ.
Mật của các nhà khác nhau trộn chung có được không?
Có thể trộn nếu các mẻ đều đạt chuẩn chung. Nhưng nên ghi lại mẻ nào trộn từ nhà nào để khi có khiếu nại còn truy được.
Người không nuôi ong có vào tổ được không?
Có thể, ví dụ nhà vườn muốn tham gia nhóm báo lịch phun hay người lo khâu bán hàng. Vai trò và quyền lợi của họ nên ghi rõ trong thoả thuận.