OngDu.org
Các loài ong không ngòi

Ong không ngòi là nhóm ong gì, sống ở đâu trên thế giới?

Ong không ngòi là tộc Meliponini, họ hàng gần của ong mật nhưng ngòi đã thoái hoá, sống thành đàn lâu năm và chỉ có ở vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới của châu Mỹ, châu Phi, châu Á và châu Úc.

Nhà nghiên cứu trẻ soi kính lúp hộp tiêu bản ong không ngòi

Ong không ngòi là một tộc ong có tên khoa học Meliponini, cùng họ với ong mật nhưng chiếc ngòi đã teo nhỏ tới mức không chích được. Chúng sống thành đàn lâu năm, có ong chúa, ong thợ, ong đực, và chỉ có mặt ở vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới: châu Mỹ, châu Phi, Nam và Đông Nam Á, châu Úc. Ong dú, ong vú ở Việt Nam chính là thành viên của nhóm này.

Bà con mới nuôi hay hỏi một câu rất thật: "Con này không chích, vậy nó có phải ong không, hay là một loại ruồi?" Câu hỏi đó hay, vì nó đụng đúng chỗ dễ hiểu sai. Ong không ngòi là ong chính hiệu, thậm chí là họ hàng khá gần của ong mật. Cái khác nằm ở chỗ mỗi nhóm đã đi một con đường riêng trong hàng triệu năm.

Bài này đặt nền cho cả danh mục: ong không ngòi là ai, khác ong mật ở những điểm gốc nào, sống ở đâu trên thế giới và vì sao không vượt ra khỏi xứ nóng. Hiểu cái nền này rồi, đọc tới từng nhóm ong dú cụ thể sẽ nhẹ hơn nhiều.

Ong không ngòi khác ong mật ở những điểm gốc nào?

Ong mật, ong nghệ và ong không ngòi có chung một đặc điểm ít người để ý: ở chân sau của ong thợ có một chỗ lõm, viền lông cứng, gọi là giỏ phấn. Ong vo phấn hoa thành viên rồi nhét vào đó mang về tổ. Nhìn một con ong dú bay về cửa tổ, thấy hai cục vàng hoặc cam ở chân sau, đó chính là giỏ phấn đang đầy. Nhờ dấu hiệu này mà các nhà phân loại xếp ba nhóm vào cùng một nhánh lớn.

Chỗ tách đường rõ nhất là chiếc ngòi. Ở ong mật, ngòi là kim chích có móc, nối với túi nọc. Ở ong không ngòi, bộ phận này vẫn còn dấu vết nhưng đã thoái hoá, tức là teo lại, không còn dùng để chích được nữa. Thay vào đó, ong dú tự vệ bằng hàm: cắn, rúc vào tóc, bôi nhựa cây lên kẻ lạ. Vì vậy mở hộp ong dú bị "cắn ngứa ngứa" chứ không sưng như bị ong mật đốt.

Điểm khác thứ hai nằm trong tổ. Ong mật xây bánh tổ bằng sáp nguyên chất, các ô lục giác dùng chung cho cả nuôi ấu trùng lẫn chứa mật. Ong không ngòi thì tách hẳn: ấu trùng nằm ở bánh ấp giữa tổ, còn mật và phấn chứa trong những bình sáp tròn như hạt đậu, hạt nhãn, xếp thành chùm quanh đó. Vật liệu cũng khác: sáp ong tiết ra được trộn với nhựa cây thành một thứ sẫm màu, dẻo, người trong nghề gọi là sáp đen hay cerumen.

Điểm khác thứ ba là cách nuôi con. Ong mật cho ấu trùng ăn dần từng bữa. Ong không ngòi thì đổ đầy thức ăn vào ô trước, ong chúa đẻ trứng lên trên rồi ong thợ đóng nắp lại, để ấu trùng tự ăn tới lúc lớn. Cách này có tên là nuôi một lần, và nó giải thích vì sao bánh ấp của ong dú trông kín mít, không thấy ấu trùng như mở thùng ong mật.

Ba khác biệt đó đủ để thấy: kinh nghiệm nuôi ong mật mang sang ong dú được một phần, nhưng phần quan trọng phải học lại từ đầu. Người quen ong mật mà nhìn bình sáp rồi tìm "bánh mật" để cắt sẽ phá hỏng tổ ong dú.

Ong không ngòi sống ở những đâu trên thế giới?

Hình dung một dải quanh đường xích đạo, chạy vòng quanh trái đất, đó là nhà của ong không ngòi. Châu Mỹ nhiệt đới, từ Mexico xuống tới miền bắc Argentina, là nơi có nhiều nhóm nhất và cũng là nơi nghề nuôi ong không ngòi có bề dày lâu đời nhất, với người Maya ở bán đảo Yucatán. Châu Phi có ít nhóm hơn nhưng nhiều kiểu tổ lạ. Nam Á và Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam, có nhiều nhóm thân nhỏ đến thân lớn. Châu Úc có ong không ngòi ở vùng bắc và dải bờ biển phía đông.

Vì sao chúng không lên được xứ lạnh? Ong mật sống qua mùa đông nhờ cả đàn tụ thành một cụm, rung cơ ngực sinh nhiệt và ăn dần kho mật đã tích. Ong không ngòi không có tập tính sưởi ấm mạnh như vậy. Đàn của chúng trông vào nhiệt độ bên ngoài, cộng với lớp vỏ bọc nhiều tầng quanh bánh ấp để giữ ấm. Gặp lạnh kéo dài, ong không bay được, ấu trùng phát triển chậm, đàn yếu dần.

Ranh giới lạnh này thấy rõ ở châu Úc: ong không ngòi có nhiều ở vùng ấm phía bắc và đông, càng xuống phía nam lạnh càng thưa, người nuôi ở vùng mát phải che chắn hộp cẩn thận vào mùa đông. Ở Việt Nam, đồng bằng và trung du có ong dú nhiều hơn vùng núi cao, và trên cao nguyên, đàn thường hoạt động trễ hơn vào những sáng lạnh.

Nhu cầu hoa quanh năm cũng giữ chúng ở xứ nóng. Đàn ong không ngòi không nghỉ đông, nên phải có nguồn hoa rải rác gần như cả năm. Ở vùng nhiệt đới, cây rừng, cây vườn và cỏ dại nở nối nhau, đủ cho một đàn nhỏ sống qua mùa khó.

Người ta ước tính có hàng trăm loài ong không ngòi đã được đặt tên, và vẫn còn loài chưa mô tả, nhất là ở rừng nhiệt đới. Con số chính xác thay đổi theo từng lần các nhà phân loại xếp lại, nên bà con không cần nhớ số. Điều cần nhớ là: ong dú không phải một loài duy nhất, mà là một nhóm rất đông họ hàng.

Những nét chung để nhận ra một con ong không ngòi

Thân nhỏ, phần lớn nhỏ hơn ong mật. Nhóm ong dú quen ở vườn Việt Nam dài chừng nửa hạt gạo đến một hạt gạo. Có loài châu Mỹ to gần bằng ong mật, nhưng hiếm.

Có giỏ phấn ở chân sau. Đây là dấu hiệu để phân biệt với nhiều loại ong đơn độc nhỏ cũng hay lượn trên hoa. Ong đơn độc thường mang phấn dính khắp lông bụng hoặc chân chứ không vo thành viên gọn.

Cánh thường dài vượt quá đuôi. Ở nhiều loài ong dú nhỏ, khi đậu xếp cánh, mép cánh thò ra quá cuối bụng một chút. Đặc điểm này giúp nhận nhanh bằng mắt thường.

Gân cánh đơn giản hơn ong mật. Nhìn qua kính lúp, cánh ong dú có ít ô gân khép kín. Bà con không cần nhớ chi tiết, chỉ cần biết đó là dấu hiệu chuyên gia dùng.

Không chích, chỉ cắn. Bị ong dú bâu thì thấy nhột, có loài cắn rát nhẹ, nhưng không có kim chích để lại trên da.

Sống thành đàn có ong chúa. Một đàn có một ong chúa đang đẻ, hàng nghìn ong thợ và theo mùa có ong đực. Đàn sống nhiều năm ở cùng một chỗ nếu không bị phá.

Làm tổ trong hốc kín. Hốc cây, khe tường, ống nước, cột rỗng, khe đá. Rất ít loài làm tổ lộ thiên ngoài cành như ong mật nhỏ.

Cửa tổ có ống hoặc viền bằng nhựa. Mỗi loài xây cửa một kiểu: ống ngắn, ống dài, hình loa, lỗ tròn viền nhựa dính. Cửa tổ là "chữ ký" dễ thấy nhất của mỗi nhóm.

Mật cất trong bình sáp tròn. Mở tổ thấy những chùm bình tròn màu nâu, không có bánh lục giác. Nếu thấy bánh lục giác thì đó không phải tổ ong dú.

Mật loãng, chua nhẹ. Mật ong không ngòi thường nhiều nước hơn và có vị chua dịu vì quá trình lên men nhẹ trong bình. Đây là đặc tính của nhóm, không phải dấu hiệu mật hỏng.

Bay gần tổ, đường bay ngắn. Ong dú thân nhỏ thường kiếm ăn trong bán kính vài trăm mét quanh tổ, gần hơn nhiều so với ong mật.

Ra vào tổ đều đặn, không ồn. Đứng cạnh tổ ong dú gần như không nghe tiếng vo ve lớn như tổ ong mật, chỉ thấy một dòng ong nhỏ ra vào liên tục.

Những hiểu lầm hay gặp về ong không ngòi

"Không chích nên không phải ong." Sai. Ong không ngòi là ong thật, cùng nhánh với ong mật nhờ giỏ phấn và lối sống xã hội. Mất ngòi là một hướng tiến hoá, không làm chúng thành côn trùng khác.

"Ong dú là ong mật con." Sai. Ong dú không bao giờ lớn thành ong mật. Một con ong dú trưởng thành đã đạt kích thước cuối cùng của nó.

"Ong ruồi là ong dú." Ở nhiều vùng, "ong ruồi" là tên gọi một loài ong mật nhỏ có ngòi, làm một bánh tổ trần trên cành. Loài đó chích đau và là ong mật, không phải ong dú.

"Ong dú chỉ có một loài." Có nhiều chi và nhiều loài. Ngay trong vườn một nhà có khi đã có hai ba loài khác nhau mà nhìn qua tưởng là một.

"Mật chua là mật giả hoặc mật hỏng." Vị chua nhẹ là bản chất của mật ong không ngòi. Mật hỏng thật sự có mùi khác hẳn, nổi bọt nhiều, đổi màu bất thường.

"Nuôi ong dú y như ong mật, chỉ nhỏ hơn." Không đúng. Cách chia tổ, cách lấy mật, cách nhân đàn đều khác. Lấy kinh nghiệm ong mật áp thẳng sang dễ làm chết đàn.

"Ong không ngòi chỉ có ở châu Á." Thực ra châu Mỹ nhiệt đới mới là nơi có nhiều nhóm nhất. Châu Phi và châu Úc cũng có.

"Ong dú không có ong chúa." Có. Ong chúa ong dú bụng phồng to, ít khi rời tổ sau khi đã giao phối. Vì ít thấy nên nhiều người tưởng không có.

"Đàn nào cũng hiền." Phần lớn ong dú nhỏ ở Việt Nam khá hiền, nhưng có nhóm cắn dữ, rúc vào tai mũi, có nhóm ở châu Mỹ tiết chất gây rát da.

"Ong dú không thụ phấn được gì đáng kể." Chúng thụ phấn cho nhiều cây rừng và cây vườn hoa nhỏ. Không thay được ong mật ở mọi cây, nhưng có chỗ đứng riêng.

"Bắt đàn hoang về là xong." Đàn hoang là nguồn giống tự nhiên. Bắt bừa, phá cây lấy tổ làm quần thể quanh vùng thưa dần, và nhiều đàn bắt về cũng chết vì bị phá nát tổ.

Biết ong thuộc nhóm nào thì việc nuôi thay đổi ra sao?

Hỏi "ong này là ong gì" không phải chuyện tò mò cho vui. Mỗi nhóm ong không ngòi có cỡ đàn, cỡ bình mật, kiểu bánh ấp, tính khí và nhu cầu hốc tổ khác nhau. Hộp làm cho ong dú đen nhỏ có thể quá rộng với loài này, quá chật với loài kia. Thời điểm tách đàn, cách mở nắp, lượng mật có thể lấy, tất cả đều xoay quanh câu hỏi đó.

Một ví dụ dễ thấy: đàn có bình mật nhỏ li ti, xếp sát bánh ấp, thì lúc lấy mật rất dễ làm vỡ bánh ấp. Đàn có bình mật to, xếp riêng một góc, thì lấy mật gọn hơn. Người nuôi không biết điều này sẽ đổ lỗi cho "tay mình vụng", trong khi thật ra là chọn sai cách cho loài mình đang nuôi.

Biết nhóm ong cũng giúp đọc tài liệu đúng. Một hướng dẫn viết cho ong thân lớn ở Malaysia, hay ong Melipona ở Mexico, có thể không áp được cho ong dú đen nhỏ ở vườn miền Tây. Đọc mà không biết tài liệu nói về loài nào thì dễ làm theo một lời khuyên hoàn toàn đúng, nhưng đúng cho con ong khác.

Không phải ai cũng cần biết tên loài chính xác. Với phần lớn bà con, biết tới mức chi, tức là nhóm lớn như Tetragonula hay Lepidotrigona, đã đủ để chọn hộp và cách chăm. Các bài tiếp theo trong danh mục này đi lần lượt qua từng nhóm hay gặp, cách tự nhận diện, và chỗ nào thì nên nhờ người có chuyên môn xem giúp. Ở các buổi thực hành tại trại, việc đầu tiên học viên làm cũng là ngồi nhìn cửa tổ và con ong thật kỹ trước khi mở bất cứ hộp nào.

Câu hỏi thường gặp

Ong không ngòi có bao nhiêu loài?

Đã có hàng trăm loài được đặt tên trên thế giới và vẫn còn loài chưa mô tả. Con số thay đổi theo mỗi lần các nhà phân loại xếp lại, nên các nguồn có thể ghi khác nhau. Điều chắc chắn là ong dú không phải một loài mà là cả một tộc lớn.

Ong không ngòi có ở châu Âu không?

Không có quần thể sống tự nhiên ở châu Âu hay vùng ôn đới lạnh. Chúng cần khí hậu ấm và hoa gần như quanh năm, nên chỉ phân bố ở vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới.

Ong dú với ong không ngòi có phải là một?

Ong dú, ong vú là tên gọi dân gian ở Việt Nam cho các loài ong không ngòi bản địa. Nói cách khác, mọi con ong dú đều là ong không ngòi, nhưng ong không ngòi trên thế giới còn nhiều loài không có ở Việt Nam.

Vì sao ong không ngòi mất ngòi mà vẫn sống được?

Chúng bù lại bằng cách khác: tổ giấu trong hốc kín, cửa tổ hẹp có ong gác, nhựa cây dính để bẫy kiến, và cắn hàng loạt khi bị quấy. Cách phòng thủ tập thể này đủ để đàn tồn tại hàng triệu năm.

Ong không ngòi có nguy hiểm cho trẻ nhỏ không?

Phần lớn ong dú ở Việt Nam chỉ cắn nhột và rúc tóc, không gây sưng như ong mật đốt. Tuy vậy vẫn nên đặt hộp xa chỗ trẻ chơi, và nếu ai đó có biểu hiện dị ứng bất thường thì đưa đi khám ngay.

Mật ong không ngòi có giống mật ong mật không?

Khác khá rõ: loãng hơn, chua nhẹ, mùi thơm của nhựa cây và men tự nhiên, lượng mỗi đàn ít hơn nhiều. Phần khoa học về mật được viết riêng trong danh mục Khoa học về mật ong dú.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, ban biên tập sẽ liên hệ lại với bạn.