Chuẩn hoá kích thước hộp ong dú là dùng một cỡ hộp duy nhất cho cả trại: cùng chiều dài, chiều rộng, chiều cao tầng, cùng kiểu mép ghép. Khi đó tầng của hộp này lắp được vào hộp kia, nên tách đàn, ghép đàn, thay tầng hỏng, chở hộp hay so số liệu cân đều dễ hơn rất nhiều.
Trại nào đi lên từ vài hộp tự đóng cũng gặp cảnh: mỗi đợt đóng một kiểu, mỗi người thợ một cỡ, có hộp xin lại của người quen. Lúc ít hộp thì không sao. Khi tách đàn cần lấy tầng giữa hộp này đặt lên hộp kia mà không vừa, mới thấy cái giá của sự lộn xộn. Bài này nói vì sao đáng làm, và làm sao chuyển đổi mà không phải bỏ hộp cũ ngay.
Một cỡ hộp giải quyết những gì?
Lợi đầu tiên là tách đàn. Với hộp tầng, tách đàn là chia hộp ở giữa, mỗi nửa thêm một tầng rỗng. Nếu tầng rỗng cùng cỡ thì chỉ việc đặt lên. Nếu không cùng cỡ, phải cắt bánh ấp chuyển sang hộp khác, đàn bị quấy nhiều hơn, tỉ lệ thành công thấp hơn.
Lợi thứ hai là thay thế. Tầng nào mục, nứt, bị mối thì rút ra, thay bằng tầng mới cùng cỡ, đàn gần như không bị ảnh hưởng. Hộp khác cỡ thì phải chuyển cả đàn sang hộp mới, một việc tốn công và rủi ro.
Lợi thứ ba là số liệu. Khi mọi hộp cùng cỡ, trọng lượng hộp rỗng gần bằng nhau, dung tích như nhau, nên so trọng lượng giữa các đàn có ý nghĩa hơn. Một hộp nặng hơn hộp kia là đàn đó tích nhiều hơn, không phải vì gỗ dày hơn.
Lợi thứ tư là đóng hàng loạt. Một cỡ chuẩn cho phép cắt ván cùng lúc, làm khuôn, giảm hao gỗ và giảm sai số. Người thợ quen tay, hộp đóng nhanh và khít hơn. Hộp chở đi cũng xếp chồng gọn, buộc chắc hơn.
Chọn cỡ chuẩn cho trại
Theo nhóm ong mình nuôi. Ong thân nhỏ cần hộp nhỏ hơn ong thân lớn. Một cỡ chuẩn chỉ áp dụng cho một nhóm ong.
Theo cỡ đàn khoẻ trung bình. Đo một vài đàn khoẻ nhất trại xem tổ chiếm thể tích cỡ nào, lấy đó làm căn cứ.
Hỏi người nuôi cùng loài trong vùng. Nếu nhiều trại quanh mình dùng một cỡ, theo cỡ đó giúp mua bán, đổi tầng dễ hơn.
Chiều cao tầng vừa phải. Tầng thấp quá thì tách đàn cắt ngang bánh ấp nhiều, tầng cao quá thì ong chậm lên.
Độ dày ván đủ cách nhiệt. Chọn theo khí hậu vùng mình. Vùng nắng gắt cần ván dày hơn hoặc mái che tốt.
Mép ghép đơn giản. Mép phẳng dễ làm, dễ cạo sáp. Mép mộng phức tạp khó đóng đều.
Kích thước lỗ cửa thống nhất. Cùng cỡ lỗ cửa giúp dùng chung nút bịt khi chở, chung ống cửa.
Ghi bản vẽ ra giấy. Một bản vẽ đơn giản có số đo, để thợ nào đóng cũng như nhau.
Làm khuôn mẫu. Một bộ ván mẫu cắt chuẩn giúp kiểm hộp mới có đúng cỡ không.
Thử trước ở vài hộp. Dùng cỡ mới cho vài đàn một mùa, xem đàn có phát triển tốt rồi mới đóng hàng loạt.
Đừng thay đổi giữa chừng. Đã chọn rồi thì giữ. Mỗi lần "cải tiến" một chút là lại tạo ra một cỡ mới.
Chuyển đổi từ trại lộn xộn sang một cỡ
Không ai bỏ hết hộp cũ để thay một lúc. Cách hợp lý là chuyển dần theo nhịp tự nhiên của trại. Từ nay mọi hộp mới đóng đều theo cỡ chuẩn. Mỗi lần tách đàn, đàn con vào hộp chuẩn. Mỗi lần hộp cũ hư, chuyển đàn sang hộp chuẩn.
Chuyển đàn từ hộp lạ sang hộp chuẩn là một việc phải làm cẩn thận. Chọn lúc thời tiết ấm, nguồn hoa tốt. Cắt bánh ấp nguyên khối nếu được, đặt vào hộp mới cùng vị trí, chuyển theo vài bình mật và phấn. Đặt hộp mới đúng chỗ hộp cũ để ong đi làm về không lạc.
Đàn yếu không nên chuyển. Đợi đàn mạnh lên, hoặc để nó sống trọn trong hộp cũ. Thà chậm vài năm còn hơn mất đàn vì nóng lòng đồng bộ.
Ghi vào sổ những hộp chưa chuẩn để biết. Mỗi năm đếm lại tỉ lệ hộp chuẩn. Sau vài mùa, phần lớn trại sẽ đồng bộ mà không có đàn nào chết vì việc chuyển đổi.
Chuẩn hoá giúp người mới và người phụ
Ít ai nghĩ tới điều này, nhưng hộp đồng bộ giúp dạy người mới rất nhiều. Khi mọi hộp như nhau, người phụ học một lần là làm được ở mọi hộp: biết tầng nào là tầng ấp, tầng mật nằm đâu, cắt ở mép nào khi tách. Với trại lộn xộn, mỗi hộp là một bài học riêng.
Người phụ cũng ít sai hơn. Không còn chuyện lấy nhầm tầng hộp này đặt lên hộp kia rồi thấy hở mép, không còn chuyện cầm dao cắt ở chỗ tưởng là mép tầng mà thật ra là giữa bánh ấp.
Khi trao đổi đàn với người nuôi khác trong vùng, cùng cỡ hộp nghĩa là chỉ cần trao tầng, không phải chuyển đàn sang hộp mới. Một nhóm hàng xóm cùng thống nhất cỡ hộp sẽ giúp nhau dễ hơn: mượn tầng, đổi bánh ấp, cứu đàn.
Ở buổi học thực hành tại trại, học viên thường được tháo lắp hộp chuẩn bằng tay, đo từng tầng, để hiểu vì sao mỗi số đo có lý do. Về nhà tự đóng theo đúng số đo đó, hộp của học viên lắp được với hộp của nhau, một lợi ích nhỏ nhưng thật.
Những lỗi khi chuẩn hoá
Chọn cỡ theo hộp đẹp. Cỡ hộp đẹp mắt chưa chắc hợp với sức đàn.
Không ghi số đo. Nhớ trong đầu thì mỗi lần đóng lại lệch vài phân.
Gỗ chưa khô. Gỗ tươi co ngót, sau vài tháng tầng hở mép, không còn vừa nhau.
Mỗi thợ một cách đo. Người đo trong lòng, người đo ngoài. Thống nhất đo cái gì.
Đổi loại gỗ. Gỗ khác độ dày thì kích thước ngoài khác dù lòng như nhau.
Chuyển đàn hàng loạt cùng lúc. Rủi ro dồn một chỗ, đàn chết nhiều.
Dùng hai cỡ cho hai loài mà không đánh dấu. Nếu nuôi hai nhóm ong, đánh dấu màu để không lắp nhầm.
Quên cỡ nắp, đáy. Tầng chuẩn mà nắp, đáy mỗi cái một kiểu thì vẫn khó ráp.
Không kiểm hộp mới. Đặt tầng mới lên một hộp cũ chuẩn thử trước khi nhận hàng.
Tẩm sơn bên trong. Chỉ sơn mặt ngoài nếu cần. Mùi sơn trong lòng hộp làm đàn khó nhận.
Bỏ hộp cũ còn tốt. Hộp cũ còn tốt vẫn dùng làm hộp cứu đàn, hộp cách ly.
Câu hỏi thường gặp
Có kích thước hộp ong dú chuẩn chung cho cả nước không?
Không có một cỡ bắt buộc chung. Mỗi nhóm ong, mỗi vùng có cỡ hợp riêng; điều quan trọng là trong một trại dùng một cỡ thống nhất cho cùng một nhóm ong.
Hộp to có giúp ong dú cho nhiều mật hơn không?
Không hẳn. Hộp quá to so với sức đàn làm đàn khó giữ ấm và tốn công trám. Hộp nên vừa với đàn, thêm tầng khi đàn lớn.
Chuyển ong dú sang hộp mới có làm đàn bỏ đi không?
Có rủi ro nếu làm lúc trời xấu, đàn yếu hoặc làm vỡ nhiều bình. Chọn đàn mạnh, ngày ấm, chuyển nguyên khối bánh ấp và đặt hộp mới đúng chỗ cũ thì rủi ro giảm nhiều.
Nên đóng hộp ong dú bằng gỗ gì?
Gỗ khô, không mùi hắc, không tẩm thuốc chống mối, đủ dày để cách nhiệt. Nhiều nơi dùng gỗ thông hay các loại gỗ nhẹ sẵn có ở địa phương.
Nuôi hai loài ong dú thì có cần hai cỡ hộp không?
Thường là có, vì cỡ tổ khác nhau. Mỗi loài một cỡ chuẩn, đánh dấu rõ để không lắp nhầm tầng giữa hai loài.