Trong vườn quốc gia và khu bảo tồn, ong dú được xem là một phần của đa dạng sinh học, được bảo vệ chung với cây rừng và mọi loài khác. Vì vậy không ai được tự ý vào bắt đàn, cưa tổ hay lấy mật. Ở vùng đệm bao quanh, nuôi ong dú lại có thể thành một sinh kế gắn với việc giữ rừng, nếu làm đúng quy định của địa phương.
Khi nói về rừng đặc dụng, người ta hay nhắc tới thú lớn, chim quý, cây gỗ trăm năm. Ít ai nhắc tới những con ong đen nhỏ hơn hạt gạo đang ra vào một khe rễ cây. Nhưng chính những con ong đó, cùng với nhiều côn trùng nhỏ khác, đang làm công việc thụ phấn để rừng có hạt, có quả nuôi các loài lớn hơn.
Ong dú làm gì cho một khu rừng được bảo vệ
Một khu rừng tự nhiên có hàng trăm loài cây ra hoa. Nhiều loài có hoa nhỏ, mọc trên cao hoặc dưới tán tối, cần côn trùng nhỏ mang phấn qua lại. Ong dú, với thân bé và tầm bay quanh tổ, là một trong những lực lượng ghé đều những hoa như vậy.
Cây đậu quả thì có thức ăn cho chim, khỉ, sóc, và có hạt để rừng tự tái sinh. Nghĩa là ong dú nằm ở rất xa phía dưới chuỗi thức ăn nhưng đỡ cho cả chuỗi phía trên. Mất ong không làm rừng chết ngay, nhưng làm rừng yếu dần theo cách khó thấy.
Ong dú cũng là nhà cho các loài khác. Trong tổ có những loài côn trùng nhỏ, nấm, vi sinh sống nhờ. Những hốc cây ong từng ở, sau khi đàn rời đi, lại có thể thành chỗ ở cho loài khác.
Vì thế người làm bảo tồn ngày càng chú ý tới côn trùng thụ phấn nói chung. Ong dú chưa được nghiên cứu nhiều ở Việt Nam như ong mật, và đó là khoảng trống mà người nuôi ong, người dân vùng đệm có thể góp phần lấp, bằng chính những điều mình quan sát được.
Những điều không được làm với ong dú trong rừng đặc dụng
Không tự ý bắt đàn. Mọi sinh vật trong vườn quốc gia, khu bảo tồn đều thuộc diện được bảo vệ chung.
Không cưa cây, phá hốc lấy tổ. Ngoài việc mất đàn, đây còn là xâm hại cây rừng.
Không lấy mật khi chưa được phép. Khai thác lâm sản phụ trong rừng đặc dụng có quy định riêng, phần lớn bị hạn chế chặt.
Không đặt hộp mồi bắt đàn. Đặt hộp để đón đàn hoang trong rừng được bảo vệ vẫn là lấy sinh vật ra khỏi rừng.
Không mang đàn từ ngoài vào thả. Đưa sinh vật vào rừng đặc dụng cần sự đồng ý của ban quản lý.
Không đốt lửa, hun khói quanh tổ. Nguy cơ cháy rừng và làm chết đàn.
Không đăng vị trí tổ hoang lên mạng. Vị trí chi tiết dễ dẫn người khác tới phá.
Không lấy mẫu ong khi không có giấy phép. Nghiên cứu cần thủ tục với ban quản lý.
Không phun thuốc trong rừng. Kể cả thuốc diệt côn trùng cho khu cắm trại, nếu không được phép.
Không xả rác ngọt. Vỏ đồ ngọt, nước ngọt thu hút côn trùng, có thể làm ong chết dính.
Khi không chắc, hỏi ban quản lý. Mỗi nơi có quy chế riêng. Hỏi trước luôn rẻ hơn làm sai.
Vùng đệm: nơi nuôi ong dú gặp chuyện giữ rừng
Vùng đệm là dải đất bao quanh rừng đặc dụng, nơi người dân sinh sống và làm nông. Ở đây, câu hỏi quen thuộc của người làm bảo tồn là: làm sao để người dân có thu nhập mà không phải vào rừng khai thác? Nuôi ong nói chung, và ong dú nói riêng, hay được nhắc tới như một hướng có thể.
Ong dú hợp với vùng đệm ở mấy điểm. Ong cần rừng còn tốt để có hoa, nên người nuôi có lý do để muốn giữ rừng. Hộp nhỏ, đặt trong vườn nhà, không cần vào rừng. Công việc nhẹ, phụ nữ, người lớn tuổi làm được.
Nhưng phải nói thật những chỗ khó. Nguồn giống ban đầu lấy từ đâu là câu hỏi lớn: nếu người ta vào rừng đặc dụng cưa tổ về nuôi, mô hình đang làm hại chính thứ nó muốn giữ. Sản lượng mật ong dú thấp, không thể hứa hẹn thu nhập lớn. Và nếu không có ai hướng dẫn kỹ thuật, đàn chết nhiều, người dân nản.
Mô hình có ý nghĩa nhất là khi nguồn giống đến từ trại bên ngoài hoặc từ đàn cứu được, người dân được học kỹ trước khi nhận đàn, có thoả thuận rõ với ban quản lý, và có người theo dõi lâu dài. Khi đó, mỗi hộ nuôi ong ở vùng đệm trở thành một người có lý do để bảo vệ rừng.
Người nuôi ong và người dân vùng đệm góp phần thế nào
Báo cho kiểm lâm khi thấy người phá tổ. Thông tin từ người dân là nguồn quan trọng của lực lượng bảo vệ rừng.
Ghi nhận ong dú quanh nhà. Ảnh, ngày, kiểu cửa tổ giúp người nghiên cứu biết loài nào có ở vùng đệm.
Giữ cây già trong vườn. Vùng đệm có hốc thì ong trong rừng và ngoài rừng nối được với nhau.
Trồng cây bản địa ra hoa. Hàng rào cây bản địa là hành lang cho ong đi lại.
Giảm thuốc gần bìa rừng. Ong trong rừng bay ra kiếm ăn ở ruộng vườn sát rìa. Phun ở đó nên rất cẩn thận, đọc nhãn, chọn giờ.
Không mua đàn từ rừng đặc dụng. Người mua từ chối thì người bắt hết động lực.
Tham gia lớp tập huấn. Khi có chương trình hỗ trợ nuôi ong vùng đệm, học kỹ trước khi nhận đàn.
Chia sẻ đàn cứu được. Đàn cứu từ cây đổ, nhà phá ở vùng đệm là nguồn giống tốt cho hàng xóm.
Hướng dẫn khách du lịch. Người dẫn đường có thể chỉ tổ ong dú cho khách xem từ xa, kể về vai trò của chúng.
Giữ kín vị trí tổ hoang. Chỉ chia sẻ với kiểm lâm, người nghiên cứu, không đưa lên mạng.
Kể chuyện ong cho con cháu. Thế hệ sau lớn lên ở vùng đệm cần biết rừng có gì đáng giữ.
Những hiểu lầm hay gặp về ong dú và rừng được bảo vệ
“Ong nhỏ thì chẳng ai quản.” Quy chế rừng đặc dụng bảo vệ cả hệ sinh thái, không chỉ loài to.
“Lấy chút mật thì không sao.” Lấy mật thường đi kèm mở tổ, phá hốc. Một người lấy chút, trăm người lấy là hết tổ.
“Cây đổ trong rừng thì lấy tổ được.” Cây đổ trong rừng đặc dụng vẫn thuộc rừng. Báo kiểm lâm thay vì tự xử lý.
“Nuôi ong ở vùng đệm thì được vào rừng lấy giống.” Hai việc khác nhau. Nuôi được không có nghĩa là được bắt đàn trong rừng.
“Ong dú trong rừng nhiều vô kể.” Chưa có số đếm. Mắt thấy nhiều ở một chỗ không nói lên cả khu rừng.
“Bảo tồn là việc của kiểm lâm.” Lực lượng bảo vệ rừng mỏng, người dân xung quanh mới là người thấy chuyện trước tiên.
“Ong mật nuôi sát rừng thì giúp rừng thụ phấn.” Ong mật giúp một phần, nhưng đặt quá đông có thể lấn nguồn hoa của ong bản địa.
“Thả đàn nuôi vào rừng là bảo tồn.” Thả không đúng loài, đúng nguồn có thể gây hại. Cần ban quản lý đồng ý.
“Mật rừng đặc dụng là mật quý nhất.” Mật lấy trái phép thì không có gì để quý. Mật ong dú nào cũng là thực phẩm, không phải thuốc.
“Chụp ảnh tổ khoe lên mạng thì vô hại.” Kèm vị trí là có thể dẫn người tới phá.
“Người nuôi ong chẳng giúp gì được rừng.” Người nuôi ong hiểu ong hơn ai hết, là người có thể nhận ra và báo sớm nhất khi ong rừng có chuyện.
Câu hỏi thường gặp
Ong dú có nằm trong danh sách loài được bảo vệ đặc biệt không?
Ong dú nói chung không phải là loài được nêu tên trong các danh sách bảo vệ thường nghe tới. Nhưng trong rừng đặc dụng, mọi sinh vật đều thuộc diện được bảo vệ chung theo quy chế của khu rừng đó.
Người dân vùng đệm có được nuôi ong dú không?
Nuôi ong dú trong vườn nhà ở vùng đệm thường không bị cấm. Điều cần hỏi ban quản lý là nguồn đàn lấy từ đâu và có được đặt hộp sát bìa rừng hay không.
Khách du lịch thấy tổ ong dú trong rừng thì nên làm gì?
Đứng xem từ xa, không chạm vào cửa tổ, không chọc que vào. Có thể chụp ảnh nhưng không nên đăng kèm vị trí chính xác.
Nghiên cứu ong dú trong vườn quốc gia cần gì?
Cần liên hệ ban quản lý để xin phép theo quy định, nhất là khi lấy mẫu. Người dân và người nuôi ong có thể hợp tác bằng cách chỉ chỗ, chia sẻ quan sát.
Ong dú trong rừng có cạnh tranh với ong mật nuôi ở vùng đệm không?
Có thể tranh một số nguồn hoa khi đặt nhiều đàn ong mật sát rìa rừng vào mùa khan. Đặt số lượng vừa phải và giữ nhiều cây hoa ở vùng đệm giúp giảm cạnh tranh.