OngDu.org
Các loài ong không ngòi

Ong dú vùng núi cao và vùng đồng bằng có khác nhau không?

Có khác: vùng núi cao lạnh hơn nên thường có ít nhóm ong dú hơn, đàn hoạt động trễ hơn mỗi sáng và chậm lại vào mùa lạnh, hay làm tổ ở chỗ giữ nhiệt; đồng bằng nóng ẩm có nhiều nhóm hơn nhưng đàn chịu nắng nóng, ngập và thuốc nhiều hơn.

Tổ ong dú trong hốc đá phủ rêu trên đồi Lâm Đồng, nắng sớm

Có khác. Vùng núi cao lạnh hơn nên thường có ít nhóm ong dú hơn, đàn ra bay trễ hơn mỗi sáng, chậm hẳn lại vào mùa lạnh, và hay chọn chỗ làm tổ giữ nhiệt như khe đá, hốc cây dày. Vùng đồng bằng nóng ẩm có nhiều nhóm hơn, đàn hoạt động nhiều giờ hơn trong ngày, nhưng lại chịu nhiều nắng nóng, ngập nước và thuốc bảo vệ thực vật hơn.

Bà con ở Lâm Đồng hay hỏi: "Ong dú dưới Bình Dương em thấy làm mật quá trời, mua mấy đàn lên Đà Lạt nuôi được không?" Bà con miền Tây thì hỏi ngược: "Ong dú trên núi người ta nói khoẻ lắm, đem xuống đây có sống không?" Hai câu hỏi đều chạm vào cùng một vấn đề: ong dú gắn chặt với nhiệt độ và mùa hoa của nơi nó sống.

Bài này giải thích vì sao nhiệt độ quyết định nhiều thứ ở ong dú, những khác biệt hay thấy giữa đàn vùng cao và đàn đồng bằng, và những gì cần lường trước khi mang đàn đi xa.

Vì sao nhiệt độ quyết định nhiều thứ ở ong dú?

Ong dú, như mọi ong không ngòi, là ong của xứ nóng. Chúng không có tập tính tụ thành cụm lớn để sưởi ấm cả đàn qua mùa lạnh như ong mật ở xứ ôn đới. Đàn giữ ấm chủ yếu nhờ lớp vỏ bọc nhiều tầng quanh bánh ấp và nhờ chọn hốc tổ kín.

Khi trời lạnh, con ong khó cất cánh vì cơ bay chưa đủ ấm. Đó là lý do ở vùng cao, những sáng sương mù lạnh, cửa tổ vắng hoe tới khi nắng lên hẳn. Ngày đi làm của ong vì thế ngắn lại, lượng hoa mang về cũng ít đi.

Ấu trùng trong bánh ấp cũng lớn chậm hơn khi lạnh. Một đàn vùng cao vào mùa lạnh có thể gần như ngưng phát triển, chỉ sống cầm chừng bằng kho mật phấn. Nếu kho mỏng, mùa lạnh kéo dài, đàn suy yếu rõ.

Nóng quá thì cũng hại. Ở đồng bằng, những trưa nắng gắt, hộp phơi nắng có thể nóng tới mức sáp mềm, bình mật chảy, ấu trùng chết. Ong phải bỏ công quạt và mang nước về làm mát thay vì đi kiếm ăn. Mỗi vùng có cái khó riêng về nhiệt.

Vùng nào có nhiều nhóm ong dú hơn?

Trên khắp vùng nhiệt đới, xu hướng chung là càng lên cao, càng lạnh, số nhóm ong không ngòi càng giảm. Điều này hợp với việc chúng là ong xứ nóng. Ở Việt Nam, vùng đồng bằng, trung du và rừng thấp thường có nhiều nhóm hơn cao nguyên lạnh.

Nhưng vùng cao không phải không có ong dú. Một số nhóm, trong đó có cả Tetragonula, sống được ở cao nguyên nếu tìm được chỗ ở ấm. Bà con Lâm Đồng, Lào Cai hay Hà Giang vẫn gặp ong dú, có điều ít đàn hơn và thường ở những chỗ kín gió, hướng nắng.

Rừng ở độ cao vừa phải, như nhiều vùng Tây Nguyên, có khi lại là nơi đa dạng: đủ ấm cho ong, lại có rừng để làm tổ và nhiều cây cho nhựa. Đồng bằng phá hết rừng thì nhiều nhóm ong cần cây lớn đã biến mất, chỉ còn nhóm sống được trong khe tường.

Vì việc khảo sát ong dú ở Việt Nam chưa đầy đủ, khó nói chắc vùng nào có bao nhiêu nhóm. Những gì bà con ghi chép được, kèm độ cao và nơi gặp, đều giúp hình dung bức tranh rõ hơn.

Khác biệt hay thấy giữa đàn vùng cao và đàn đồng bằng

Giờ ra bay. Đàn vùng cao thường ra muộn, nghỉ sớm. Đàn đồng bằng làm việc từ sáng sớm tới chiều.

Mùa ngưng phát triển. Vùng cao có mùa lạnh đàn gần như đứng yên. Đồng bằng thì mùa khó thường là mùa mưa dầm hoặc mùa khô hạn.

Lớp vỏ bọc. Đàn sống chỗ lạnh thường được thấy có vỏ bọc dày, kín hơn. Đây là cách ong giữ ấm bánh ấp.

Nơi làm tổ. Vùng cao, đàn hay chọn khe đá, hốc cây dày, chỗ kín gió. Đồng bằng có nhiều đàn trong khe tường, ống nước giữa khu dân cư.

Nguồn hoa. Vùng cao có mùa hoa rõ rệt, có loài cây riêng của khí hậu mát. Đồng bằng hoa rải rác hơn, nhiều cây ăn trái và cỏ dại.

Ẩm và nấm mốc. Vùng cao mùa mưa ẩm kéo dài, hộp dễ mốc. Đồng bằng ven sông thì ngập, hộp đặt thấp dễ ướt.

Nắng nóng. Đồng bằng có những đợt nóng gắt, hộp phải che kỹ. Vùng cao ít gặp nóng quá mức.

Thuốc bảo vệ thực vật. Đồng bằng canh tác dày, mùa phun dày, rủi ro ngộ độc cao hơn. Vùng cao trồng rau hoa cũng phun nhiều ở một số nơi.

Tốc độ nhân đàn. Đàn vùng cao thường cần lâu hơn để đủ sức tách. Đàn đồng bằng nhiều hoa có thể tách sớm hơn.

Lượng mật. Không thể nói chung vùng nào nhiều hơn. Phụ thuộc nguồn hoa cụ thể quanh trại.

Ong cướp và kẻ thù. Mỗi vùng có kẻ thù quen riêng. Ghi lại những gì đàn mình hay gặp để phòng.

Đưa đàn từ đồng bằng lên cao hoặc ngược lại, cần lường gì?

Ong quen khí hậu cũ. Đàn đã quen nhiệt độ và mùa hoa nơi cũ. Chuyển vùng là thử thách lớn, không phải đàn nào cũng chịu được.

Lên cao: lo lạnh. Chọn mùa ấm để chuyển, đặt hộp hướng nắng sáng, kín gió, có thể bọc thêm lớp cách nhiệt quanh hộp.

Xuống thấp: lo nóng. Đàn vùng cao đưa xuống đồng bằng cần bóng mát kỹ, hộp thông thoáng, có nước gần.

Chọn đàn khoẻ, kho đầy. Chỉ chuyển đàn mạnh, nhiều mật phấn, để đàn có sức qua giai đoạn làm quen.

Tránh chuyển vào mùa khó. Không đưa đàn lên cao lúc sắp vào mùa lạnh, không đưa xuống đồng bằng lúc sắp vào đợt nóng.

Chuyến đi êm và mát. Đóng cửa hộp đúng lúc, xe thoáng, không để hộp dưới nắng, đi đường ngắn nhất.

Ưu tiên ong tại chỗ. Nếu vùng mình đã có ong dú bản địa, bắt đầu từ đàn tại chỗ an toàn hơn mua đàn nơi xa.

Lưu ý loài. Mang đàn đi rất xa có thể đưa một loài tới nơi vốn không có nó. Biết rõ đàn mình là nhóm gì trước khi chuyển.

Không mở hộp ngay. Để đàn ổn định vài tuần sau khi tới nơi mới.

Theo dõi bằng cân và cửa tổ. Cân hộp định kỳ, xem dòng ong mang phấn về. Hộp nhẹ dần là đàn đang ăn vào kho.

Ghi chép để học. Ghi ngày chuyển, thời tiết, diễn biến. Kinh nghiệm này quý cho người khác trong vùng.

Mỗi vùng ở Việt Nam một thách thức riêng

Ở cao nguyên lạnh như vùng Đà Lạt, cái khó lớn nhất là những tháng lạnh ẩm kéo dài. Đàn cần hộp dày, kín khe, đặt nơi đón nắng sáng, tránh gió lùa. Mùa mưa dài thì phải lo ẩm mốc trong hộp.

Ở Tây Nguyên, mùa khô gió mạnh và nắng làm hoa thưa đi, nước khan hiếm. Bù lại, mùa hoa cà phê nở rộ là dịp tốt cho ong nếu vườn không phun thuốc lúc đó. Đàn cần nguồn nước gần và cây che bóng.

Ở đồng bằng sông Cửu Long, nóng ẩm quanh năm, hoa cây ăn trái nhiều, nhưng nước lên vào mùa lũ, hộp đặt thấp dễ ngập. Canh tác dày cũng kéo theo mùa phun thuốc dày.

Ở miền Bắc, mùa đông lạnh và nồm ẩm là hai giai đoạn thử thách. Đàn vào đông phải có kho đủ, hộp kín gió. Trung du với đồi và rừng thường hợp ong dú hơn đồng bằng sông Hồng canh tác dày đặc.

Không có một cách nuôi đúng cho cả nước. Đó là lý do người học nuôi ong dú nên học cả nguyên lý lẫn cách người trong vùng mình đang làm, rồi tự điều chỉnh theo vườn nhà.

Câu hỏi thường gặp

Ong dú có nuôi được ở Đà Lạt không?

Có, nhưng khó hơn vùng thấp. Cần chọn đàn khoẻ, hộp dày kín gió, đặt chỗ đón nắng sáng và chuẩn bị cho đàn qua những tháng lạnh ẩm. Ưu tiên đàn có sẵn quanh vùng cao.

Ong dú vùng cao có khoẻ hơn ong dú đồng bằng không?

Không có cơ sở để nói chung như vậy. Đàn vùng cao quen lạnh hơn, đàn đồng bằng quen nóng hơn. Mỗi đàn khoẻ ở nơi nó quen.

Mùa lạnh đàn ong dú không ra cửa có phải đàn chết?

Chưa chắc. Trời lạnh ong ít ra là bình thường. Chờ một ngày nắng ấm xem có ong ra không, hoặc cân hộp so với lần trước để đánh giá.

Có nên bọc hộp ong dú vào mùa đông ở miền Bắc không?

Bọc thêm lớp cách nhiệt quanh hộp và che gió có thể giúp đàn giữ ấm. Đừng bịt kín cửa tổ và đừng để hộp đọng ẩm bên trong.

Mật ong dú vùng cao có khác mật đồng bằng không?

Mùi vị khác chủ yếu do nguồn hoa và nhựa của mỗi vùng. Độ ẩm của mật cũng chịu ảnh hưởng bởi khí hậu, nên khâu bảo quản cần chú ý theo vùng.

Ở độ cao nào thì không còn ong dú?

Không có một con số chung, vì còn tuỳ vĩ độ, hướng sườn núi và chỗ ở. Càng lên cao càng ít, và ở những nơi lạnh quanh năm thì gần như không có.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, ban biên tập sẽ liên hệ lại với bạn.