Ong dú không có ngòi, nhưng không có nghĩa là không biết tự vệ. Chúng cắn bằng hàm, chui vào tóc, tai, mũi kẻ lạ, trét nhựa cây dính lên kiến và ruồi, thu hẹp cửa tổ ban đêm, và luôn có ong gác ngửi mùi từng con ra vào. Một tổ ong dú bị phá có thể làm người ta phải bỏ chạy, dù không ai bị đốt.
Trong buổi học ngoài trời, cảnh quen thuộc là vài con ong bám vào tóc một học viên, cả lớp cười ồ. Không đau, chỉ khó chịu và nhột. Nhưng cái cảnh nhỏ đó chính là một cách tự vệ đã giúp các loài ong không ngòi tồn tại hàng triệu năm. Hiểu nó thì mình mở hộp êm hơn, đàn đỡ bị xáo trộn hơn.
Mất ngòi nhưng đổi lại những gì
Ong không ngòi có tổ tiên chung với ong mật, nhưng ngòi của chúng đã thoái hoá, chỉ còn dấu vết nhỏ không dùng để chích được. Thay vì một vũ khí mạnh dùng một lần như ngòi ong mật, ong dú dựa vào nhiều cách nhỏ cộng lại: canh gác, xây tổ kín, dùng nhựa cây, và tấn công theo bầy khi cần.
Cách đầu tiên là chọn chỗ ở. Ong dú làm tổ trong hốc cây, hốc tường, thân tre, nơi chỉ có một lối vào. Chúng trám kín mọi khe khác, để lại một ống cửa hẹp vừa một hai con chui. Kẻ thù muốn vào phải đi qua đúng chỗ ong gác đang đứng.
Cách thứ hai là đông. Khi tổ bị phá, ong toả ra một mùi báo động. Mùi này lan nhanh, kéo cả trăm con lao ra cùng lúc. Một con ong dú cắn không đau, nhưng vài chục con chui vào tóc, vào tai, bò lên mặt thì đủ để làm một con thú hay một người phải tránh xa.
Cách thứ ba là hoá chất từ cây. Ong dú gom nhựa cây về tổ, dùng nó vừa làm vật liệu xây vừa làm vũ khí. Nhựa dính bôi lên kiến làm kiến bị kẹt, bôi quanh cửa làm thành một vòng chắn. Ở một số nhóm ong không ngòi ở châu Mỹ, ong còn tiết chất làm bỏng da, nhưng các loài ong dú phổ biến ở Việt Nam không có kiểu này.
Các cách ong dú bảo vệ tổ
Ong gác ở ống cửa. Vài con đứng ngay miệng ống, ngửi mùi từng con ra vào. Ong lạ bị chặn lại, đẩy ra hoặc cắn.
Cửa tổ hẹp và dài. Ống cửa nhỏ chỉ vừa một hai con, giúp ít ong cũng giữ được lối vào trước kẻ thù lớn hơn.
Thu hẹp cửa ban đêm. Nhiều đàn bịt bớt hoặc đóng hẳn cửa bằng nhựa khi trời tối, sáng ra mở lại. Ban đêm là lúc kiến hay tấn công.
Vòng nhựa dính. Một số loài để những giọt nhựa dính quanh cửa tổ. Kiến, ruồi đi qua là dính chân.
Trét nhựa lên kẻ lạ. Ong gác có thể bôi nhựa lên mình con kiến hay ruồi lọt vào, làm nó không cử động được.
Cắn bằng hàm. Hàm ong dú nhỏ nhưng khoẻ, cắn vào da người gây nhột hoặc hơi nhói, không để lại vết như ong đốt.
Chui vào tóc, tai, mũi. Đây là kiểu tấn công khiến người và thú khó chịu nhất. Ong bám vào tóc, xoắn theo sợi tóc, rất khó gỡ.
Tấn công theo bầy. Khi tổ bị phá mạnh, mùi báo động gọi cả đàn ra. Càng đập ong, mùi càng nhiều, ong càng ra đông.
Che giấu tổ. Tổ trong hốc, cửa nhỏ, màu giống vỏ cây. Người không quen nhìn có thể đi ngang qua mà không biết.
Lớp tường trám dày. Trong hốc cây, ong dựng lớp tường nhựa và sáp dày ở các đầu hốc, chặn kẻ đào khoét từ phía khác.
Ổn định từ bên trong. Tổ sạch, dọn rác thường xuyên, ít mùi hấp dẫn kẻ thù. Nhựa cây còn hạn chế nấm mốc.
Vì sao có đàn hiền, có đàn dữ
Người nuôi lâu năm đều có kinh nghiệm: cùng một loài, có hộp mở ra ong bò lừ đừ, có hộp mở ra ong túa lên chui tóc. Độ "dữ" khác nhau do nhiều thứ cộng lại: loài, tính nết riêng của đàn, mùa, giờ, và cách người nuôi đã đối xử với đàn đó.
Mùa hoa nhiều, đàn bận kiếm ăn, thường hiền hơn. Mùa khô thiếu hoa, đàn phải giữ từng giọt mật, thường gắt hơn. Giờ trưa nắng nóng ong cũng dễ nổi nóng. Một hộp vừa bị ong lạ cướp hay vừa bị kiến tấn công sẽ cảnh giác cao trong nhiều ngày.
Cách người nuôi mở hộp cũng ảnh hưởng. Mỗi lần đè chết ong, ong chết toả mùi báo động. Mở hộp mà bóp chết vài chục con thì lần sau đàn đó dễ "nhớ" và phản ứng mạnh hơn, ít nhất là trong lần mở đó. Thao tác chậm, nhẹ, không đè ong là cách rẻ nhất để đàn hiền.
Còn tính nết riêng của đàn thì có phần do giống. Chúa ong dú thường chỉ giao phối với một con ong đực, nên đàn có thể mang tính nết khá riêng. Khi tách đàn hay chọn đàn để nhân giống, nên ưu tiên những đàn vừa khoẻ vừa hiền. Sau vài lứa, cả trại sẽ dễ làm việc hơn rõ.
Làm việc với hộp ong dú mà không bị "quấy"
Buộc tóc gọn hoặc đội mũ. Tóc dài xoã là chỗ ong thích chui vào nhất. Một cái mũ vải mỏng là đủ, không cần đồ bảo hộ ong mật.
Mở hộp vào sáng sớm hoặc chiều mát. Tránh giữa trưa nắng nóng, lúc ong dễ kích động và khu ấp dễ bị khô.
Thao tác chậm và nhẹ. Nạy nắp từ từ, không giật. Rung lắc mạnh làm cả đàn ùa ra.
Không đập ong. Đập chết ong làm toả mùi báo động, gọi thêm ong ra. Gạt nhẹ hoặc đứng yên chờ ong tự bay.
Tránh đè chết ong khi đậy nắp. Thổi nhẹ hoặc dùng cọng lá gạt ong khỏi mép trước khi đặt nắp.
Không đứng chắn cửa tổ. Đứng chắn đường bay làm ong đi kiếm ăn về va vào người, dễ bị coi là kẻ lạ.
Mặc áo màu sáng, trơn. Áo trơn ít chỗ để ong bám. Nhiều người thấy màu sáng ít bị ong vây hơn, dù mỗi đàn một khác.
Đóng hộp nhanh khi đàn quá gắt. Gặp đàn túa ra dữ dội thì đậy lại, để hôm khác. Không có việc gì gấp đến mức phải làm lúc đó.
Lau sạch mật dính tay, dụng cụ. Mùi mật kéo ong bâu vào người và kích thích ong lạ tới cướp.
Che mắt khi đàn ra đông. Ong dú có thể bò vào mắt gây khó chịu. Kính bảo hộ mỏng hữu ích cho người hay mở nhiều hộp.
Gỡ ong khỏi tóc bằng cách bóp nhẹ. Ong xoắn trong tóc thì bóp nhẹ cho ong nhả ra hoặc chải tóc sau khi rời vườn. Đừng giật mạnh làm đứt tóc.
Kẻ thù thật sự của đàn ong dú không phải con người
Người nuôi hay lo bị ong cắn, nhưng với đàn ong dú, con người chỉ là một trong nhiều mối đe doạ, và thường không phải lớn nhất. Kẻ thù dai dẳng hơn là kiến. Kiến đi thành đường dài, đánh hơi được mùi mật và ấu trùng, có thể tấn công liên tục nhiều đêm liền.
Kẻ thù thứ hai là ruồi nhỏ chuyên đẻ trứng vào bình phấn. Chúng lọt vào khi đàn yếu hoặc vừa bị mở hộp, đẻ trứng, giòi nở ra ăn phấn và phá cả khu ấp. Những vòng nhựa dính và ong gác ở cửa chủ yếu là để chặn hai loại này, chứ không phải để chặn người.
Kẻ thù thứ ba là chính những đàn ong dú khác. Mùa thiếu hoa, một đàn mạnh có thể kéo sang cướp mật đàn yếu, hoặc chiếm luôn tổ. Ngoài ra còn thằn lằn, nhện, chim rình bắt ong ở cửa tổ. Mỗi kẻ thù một kiểu, và mỗi cách tự vệ của ong được "thiết kế" để chống một nhóm.
Hiểu điều này thì người nuôi biết đỡ cho đàn đúng chỗ: chặn đường kiến lên chân kệ, giữ đàn đủ mạnh để có ong gác, thu nhỏ cửa với đàn yếu, lau sạch mật rơi sau khi lấy mật. Đàn tự vệ tốt nhất khi nó không phải vừa chống kẻ thù vừa chống những rắc rối do chính mình gây ra.
Câu hỏi thường gặp
Ong dú cắn có đau không?
Phần lớn chỉ nhột hoặc hơi nhói, không sưng như ong đốt. Người có da nhạy cảm có thể đỏ nhẹ chỗ bị cắn, nếu có biểu hiện khác thường thì nên hỏi bác sĩ.
Trẻ em đứng gần hộp ong dú có an toàn không?
Ong dú không có ngòi nên ít nguy hiểm hơn ong mật nhiều. Tuy vậy trẻ nhỏ không nên chọc phá cửa tổ, vì ong có thể chui vào tóc, tai làm các bé hoảng sợ.
Vì sao ong dú thích chui vào tóc?
Tóc là chỗ ong bám được và khó bị gạt ra, chui vào đó là cách làm kẻ lạ khó chịu và rời đi. Mùi mồ hôi, hơi thở cũng thu hút ong khi chúng đang trong trạng thái phòng vệ.
Có cần đồ bảo hộ khi nuôi ong dú không?
Không cần bộ đồ kín như nuôi ong mật. Mũ hoặc khăn buộc tóc, áo trơn và thao tác nhẹ nhàng là đủ cho hầu hết các tình huống.
Đàn ong dú có tấn công nhau không?
Có. Đàn mạnh có thể cướp mật hoặc chiếm tổ của đàn yếu, nhất là khi mùa thiếu hoa và hộp yếu bị mở cửa rộng. Ong gác và cửa hẹp là cách đàn yếu tự bảo vệ.