Nghề nuôi ong không ngòi ở Brazil đáng học ở bốn điểm: họ nuôi đúng loài bản địa của từng vùng, dùng hộp đứng nhiều tầng giúp tách đàn và lấy mật gọn, xử lý ruồi phá tổ bằng bẫy giấm rẻ tiền, và có nhiều cách làm cho mật ổn định thay vì để nó chua tự do. Nghề này ở Brazil có tên riêng, thường được gọi là meliponicultura.
Brazil là một trong những nơi có nhiều loài ong không ngòi nhất thế giới. Từ rừng Amazon ẩm ướt tới vùng bán khô hạn phía đông bắc, mỗi vùng có những loài riêng, và người dân mỗi vùng có cách nuôi riêng. Có loài con to gần bằng ong mật, có loài nhỏ xíu, hiền tới mức được nuôi ngay trong sân trường giữa thành phố.
Không phải mọi thứ ở Brazil đều áp được cho mình, nhưng cách họ tổ chức nghề thì có rất nhiều điều để ngẫm.
Vì sao Brazil có nhiều loài ong không ngòi đến vậy?
Ong không ngòi là nhóm ong của vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Châu Mỹ nhiệt đới, đặc biệt là lưu vực Amazon và các cánh rừng ven biển Đại Tây Dương, là nơi nhóm ong này đa dạng bậc nhất. Brazil chiếm phần lớn diện tích những vùng ấy, nên số loài ở đây rất nhiều.
Hai nhóm hay được nuôi là Melipona — ong to, đàn ít quân, bình mật lớn, và các nhóm ong nhỏ như Tetragonisca hay Scaptotrigona — đàn đông, có loài rất hiền, có loài cắn và quấn tóc người khi bị động tổ. Người nuôi chọn loài theo mục đích: lấy mật, thụ phấn hay nuôi để dạy học.
Điều quan trọng là mỗi loài gắn với một vùng. Loài sống ở vùng bán khô hạn quen nắng gió, quen mùa khô dài. Loài rừng ẩm quen bóng râm và độ ẩm cao. Đem một loài ra khỏi vùng của nó thì đàn thường suy, và còn gây rủi ro cho đàn bản địa nơi mới.
Vì vậy ở Brazil, quan niệm “nuôi loài của vùng mình” được nhắc rất nhiều. Việc vận chuyển đàn ong không ngòi đi xa cũng được quản lý bằng quy định. Bà con mình nên ghi nhớ đúng tinh thần này: ong dú ở miền núi phía bắc, ở Tây Nguyên và ở đồng bằng Nam Bộ có thể là những loài khác nhau, đừng mua đàn từ vùng xa về chỉ vì nghe nói “ong đó cho nhiều mật”.
Hộp đứng nhiều tầng của Brazil hoạt động thế nào?
Hộp xếp thành tầng theo chiều đứng. Mỗi tầng là một khung vuông không đáy, chồng lên nhau, có nắp trên và đáy dưới.
Tầng dưới là tầng ong non. Ong chúa đẻ và bánh ong non nằm ở các tầng dưới, nơi ổn định nhiệt nhất.
Tầng trên là tầng mật. Khi đàn đầy, ong dồn kho lên tầng trên. Người nuôi chỉ nhấc tầng này ra để lấy mật.
Có tấm ngăn có lỗ giữa các tầng. Một số mẫu có tấm ngăn với lỗ nhỏ để định hướng chỗ ong đặt bánh ong non và chỗ ong đặt bình mật.
Tách đàn bằng nhấc tầng. Khi tầng ong non đã kín, người nuôi tách các tầng ra, ghép với tầng rỗng mới. Ý tưởng gần với hộp chia đôi ở Úc.
Kích thước theo từng loài. Loài to cần tầng rộng hơn, loài nhỏ cần tầng hẹp hơn. Không có một cỡ hộp chung cho mọi loài.
Gỗ dày, mặt trong để thô. Ong bám và trát nhựa dễ hơn trên mặt gỗ thô.
Khe nối phải kín. Khe giữa các tầng là chỗ ruồi phá tổ hay chui vào đẻ trứng. Người nuôi trát kín hoặc dán băng sau mỗi lần mở.
Đặt trên giá có mái che. Nhiều trại xếp hộp trên giá dài dưới mái che, gọi là nhà ong, vừa che nắng mưa vừa dễ đi kiểm.
Dễ ghi chép và so sánh. Hộp chuẩn giúp so được sức đàn giữa các hộp: đàn nào kín mấy tầng, nhanh hay chậm.
Không phải mọi người đều dùng. Ở nông thôn vẫn còn nhiều người nuôi trong khúc gỗ, hũ, bầu khô. Hộp chuẩn phổ biến ở các trại làm nghề có quy mô.
Ruồi phá tổ và chiếc bẫy giấm
Kẻ thù khó chịu nhất của ong không ngòi ở nhiều nơi là một loại ruồi nhỏ chuyên tìm tới mùi phấn và mật. Chúng chui qua khe, đẻ trứng vào kho phấn. Vài ngày sau ấu trùng ruồi nở ra, ăn phấn, làm thối kho, mùi chua bốc lên, ruồi lại kéo đến nhiều hơn. Một đàn yếu có thể tan trong vài tuần.
Người nuôi ở Brazil có một cách rất rẻ: bẫy giấm. Một lọ nhỏ đựng giấm, nắp có lỗ đủ cho ruồi chui vào, đặt trong hoặc sát hộp, nhất là sau khi vừa tách đàn hay vừa lấy mật. Mùi chua của giấm giống mùi phấn lên men nên hút ruồi vào, ruồi vào rồi chết đuối trong lọ. Lỗ phải nhỏ để ong không chui theo.
Nhưng bẫy chỉ là phần phụ. Người nuôi có nghề luôn nhắc rằng phòng ruồi bắt đầu từ lúc mở hộp: hạn chế làm vỡ bình phấn, bình mật; nếu vỡ thì lau sạch ngay; trát kín khe ngay sau khi đóng; không để hộp nửa trống quá lâu sau khi tách; và không tách đàn khi đàn còn yếu.
Bà con mình cũng gặp đúng cảnh này: mở hộp lấy mật xong vài hôm thấy ruồi bu, có mùi chua lạ, nhìn vào thấy dòi trong kho phấn. Học theo Brazil, có thể thử bẫy giấm đặt cạnh hộp vừa mở. Nhớ quan sát kỹ xem có ong nào vào bẫy không, nếu có thì thu nhỏ lỗ lại.
Làm cho mật ổn định: các cách người Brazil hay dùng
Hút ẩm. Mật được đặt trong phòng có máy hút ẩm hoặc thiết bị chuyên để rút bớt nước, nhờ vậy ít lên men hơn.
Giữ lạnh. Mật cất trong tủ mát ngay sau khi lấy, đơn giản và giữ mùi tốt, nhưng phải giữ lạnh suốt từ trại tới tay người dùng.
Ủ chín có kiểm soát. Một số nơi chủ động để mật lên men trong bình kín sạch một thời gian, sau đó mật ổn định hơn, vị chua rõ hơn. Cách này cần làm sạch tuyệt đối.
Gia nhiệt nhẹ. Có nơi làm ấm mật ở nhiệt độ vừa phải để ngưng lên men. Nóng quá thì mất mùi, đổi vị.
Mỗi cách cho một kiểu mật. Người mua quen một kiểu sẽ thấy kiểu khác lạ. Ghi rõ cách xử lý trên nhãn là cách làm trung thực.
Dụng cụ sạch là điều kiện đầu. Cách nào cũng thất bại nếu dụng cụ bẩn hay mật lẫn phấn, xác ong.
Không pha thêm nước hay đường. Mật ong không ngòi vốn loãng, nhưng chưa bao giờ là lý do để pha.
Đựng chai có khoảng trống. Mật còn ẩm có thể sinh khí. Chai đầy miệng dễ bật nắp.
Ghi ngày lấy và loài ong. Mật của mỗi loài khác nhau về vị và độ ẩm. Ghi đúng giúp người mua và giúp chính người nuôi.
Có nơi có quy định riêng cho mật này. Một số bang ở Brazil đã ban hành quy định cho mật ong không ngòi, vì chuẩn của mật ong Apis không phù hợp.
Thử trước với mẻ nhỏ. Người nuôi muốn đổi cách xử lý thường thử vài lọ trước, theo dõi nhiều tuần rồi mới làm cả mẻ.
Cái hay nhất: ong không ngòi trong trường học và thành phố
Ở nhiều thành phố Brazil, những loài ong nhỏ và hiền được nuôi ngay trong sân trường, công viên, vườn nhà. Trẻ con được đứng sát hộp, nhìn ong ra vào, được nghe về chuyện thụ phấn, chuyện rừng. Ong không chích nên phụ huynh và nhà trường yên tâm hơn nhiều so với ong mật.
Đây là cách nghề nuôi ong tự tìm người kế nghiệp. Một đứa trẻ từng giữ hộp ong ở trường sẽ lớn lên với hiểu biết rằng ong bản địa cần cây, cần ít thuốc, cần được giữ. Nghề nuôi ong của người Maya suýt mất vì đứt truyền nghề — Brazil đang làm ngược lại.
Ở Việt Nam, ong dú cũng hiền, đàn nhỏ, rất hợp để làm giáo cụ sống ở trường làng, trường có vườn. Một hộp ong dú đặt góc vườn trường, có kính quan sát, đủ cho các em học cả một mùa về hoa, về ong và về mật.
Cái cần nhớ khi làm việc này là chọn chỗ đặt hộp tránh lối đi đông, tránh nắng gắt, cấm phun thuốc quanh đó, và có một người lớn hiểu ong chịu trách nhiệm chăm. Hộp ong bỏ bê ở sân trường dạy cho trẻ điều ngược lại với điều mình muốn.
Câu hỏi thường gặp
Meliponicultura là gì?
Đó là cách người nói tiếng Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha gọi nghề nuôi ong không ngòi, lấy từ tên tộc Meliponini. Trong tiếng Việt có thể hiểu đơn giản là nghề nuôi ong dú, ong vú.
Bẫy giấm có làm chết ong dú không?
Nếu lỗ bẫy đủ nhỏ thì ong dú hầu như không chui vào, chỉ ruồi bị hút theo mùi chua. Vẫn nên quan sát vài ngày đầu: thấy ong trong lọ thì thu nhỏ lỗ hoặc dời bẫy ra xa cửa tổ hơn.
Mật ong không ngòi ủ chín có phải mật hỏng không?
Không hẳn. Ủ chín có kiểm soát là một cách làm có chủ đích, trong bình sạch, đậy kín, theo dõi kỹ. Mật để lăn lóc ở nhiệt độ phòng cho tới khi sủi bọt, đổi mùi lạ thì là mật hỏng, không phải mật ủ chín.
Hộp đứng nhiều tầng có hợp với ong dú Việt Nam không?
Nguyên tắc chia tầng ong non và tầng mật rất hợp. Kích thước từng tầng thì phải chọn theo loài ong dú cụ thể ở vùng mình, nên làm thử vài hộp, theo dõi đàn xây tổ một mùa rồi mới chốt mẫu.
Brazil có nhập ong không ngòi nước ngoài để nuôi không?
Hướng chung ở đó là nuôi loài bản địa của từng vùng, và việc di chuyển đàn ra khỏi vùng phân bố tự nhiên được hạn chế. Đó cũng là lời khuyên cho Việt Nam: dùng đàn bản địa, tránh mua đàn từ nơi xa.