Trên thế giới, tổ nuôi ong không ngòi chia làm hai nhóm. Nhóm truyền thống gồm khúc gỗ, ống tre, hũ đất nung, gáo dừa, bầu khô, hốc tường. Nhóm hộp hiện đại gồm hộp nằm ngang kiểu Thái Lan, khúc gỗ gắn hộp mật kiểu Malaysia, hộp chia đôi kiểu Úc và hộp đứng nhiều tầng kiểu Brazil. Hình dáng khác nhau nhưng kiểu nào tốt cũng giải được ba bài: giữ nhiệt ổn định, vừa cỡ với đàn, và tách được chỗ ong non với chỗ lấy mật.
Bà con mới nuôi hay hỏi “hộp nào tốt nhất”. Câu hỏi đúng hơn là: hộp nào hợp với loài ong của mình, khí hậu vùng mình, và cách mình định chăm. Một mẫu hộp nổi tiếng ở Úc có thể quá nóng ở Long An, một mẫu hộp Brazil có thể quá rộng cho đàn ong dú nhỏ ở Huế.
Bài này đi qua từng kiểu, nói rõ nó sinh ra để giải bài toán gì, rồi gợi ý cách chọn.
Một cái tổ nuôi ong không ngòi cần làm được gì?
Trước khi so các kiểu hộp, phải hiểu đàn ong cần gì ở chỗ ở. Ong không ngòi giữ bánh ong non ở giữa, bao quanh bằng một lớp màng sáp mỏng nhiều lớp gọi là vỏ bọc, rồi tới vùng kho mật và kho phấn trong các bình sáp. Cả tổ được trát nhựa kín khe, chỉ chừa một cửa nhỏ có ống.
Bánh ong non cần ấm và ổn định. Ong không ngòi không có cách sưởi ấm mạnh như ong mật, chúng dựa nhiều vào lớp vỏ bọc và vào chính vật liệu bao quanh tổ. Vì vậy thành tổ dày, cách nhiệt tốt là điều đầu tiên. Thành mỏng phơi nắng thì trưa nóng quá, đêm lạnh quá, đàn tốn sức chống đỡ.
Thứ hai là cỡ vừa phải. Đàn ong không ngòi phải canh giữ mọi chỗ trống trong tổ. Tổ quá rộng là để lại khoảng trống cho ruồi, kiến và nấm mốc. Tổ quá chật thì đàn đầy nhanh và tự chia đàn đi chỗ khác.
Thứ ba, với người nuôi lấy mật, là tách được vùng ong non với vùng kho. Tổ tự nhiên không làm điều này: muốn lấy mật phải cắt vào tổ. Mọi kiểu hộp hiện đại đều cố gắng tạo một chỗ để ong dồn kho tách khỏi bánh ong non, để người nuôi lấy mật mà không đụng vào phần sống còn của đàn.
Thứ tư là dễ tách đàn và dễ quan sát. Hộp càng dễ tách đôi, càng dễ nhìn vào mà ít làm xáo trộn, thì càng hợp cho người nuôi nhiều đàn.
Các kiểu tổ truyền thống trên thế giới
Khúc gỗ nằm ngang của người Maya. Đoạn thân cây có sẵn tổ, hai đầu bịt nút. Lấy mật bằng cách mở một đầu. Ưu điểm là giữ nhiệt tốt, nhược điểm là nặng và khó tách đàn.
Khúc gỗ đứng ở Đông Nam Á. Nhiều nơi ở Malaysia, Indonesia đặt khúc gỗ đứng trên cọc. Đây là nền để sau này gắn thêm hộp mật lên trên.
Ống tre. Phổ biến ở Ấn Độ, Indonesia và nhiều vùng ở Việt Nam. Nhẹ, rẻ, dễ treo, nhưng thành mỏng và lòng hẹp.
Hũ đất nung. Gặp ở miền nam Ấn Độ. Giữ mát tốt nhờ đất nung, nhưng dễ vỡ.
Gáo dừa ghép đôi. Ở một số vùng trồng dừa ở Philippines, Indonesia, người ta ghép hai nửa gáo dừa làm tổ. Nhỏ, rẻ, hợp với đàn nhỏ và làm bẫy đàn.
Bầu khô. Ở nhiều vùng Mỹ Latinh, quả bầu khô khoét ruột được dùng làm tổ cho các loài ong nhỏ.
Hốc tường, cột nhà. Ở nhiều nơi, kể cả Việt Nam, đàn ong tự làm tổ trong tường hay cột nhà, chủ nhà giữ lại.
Thùng gỗ đóng tạm. Thùng đựng đồ cũ được tận dụng. Chạy được, nhưng thường quá rộng hoặc gỗ quá mỏng.
Chung một điểm yếu. Hầu hết kiểu truyền thống không tách được vùng ong non với kho mật, nên lấy mật thường phải cắt bóp, khó sạch.
Chung một điểm mạnh. Vật liệu sẵn có, rẻ, gần với chỗ ở tự nhiên của ong, đàn thường ổn định.
Vẫn rất hữu ích làm bẫy đàn. Ống tre, gáo dừa đặt gần đàn mạnh để chờ ong tự sang lập tổ mới.
Các kiểu hộp hiện đại và bài toán mà mỗi kiểu giải
Hộp nằm ngang kiểu Thái Lan. Dẹt, dài, không lớn. Ong non một đầu, kho mật lan sang đầu kia. Nắp chia hai tấm để chỉ mở phần mật.
Khúc gỗ gắn hộp mật kiểu Malaysia. Giữ nguyên tổ cũ trong khúc gỗ, gắn hộp trống lên trên. Ong lan lên, xây bình mật ở hộp trên.
Hộp chia đôi kiểu Úc. Hai nửa chồng lên nhau, tổ xây vắt qua chỗ nối. Tách đàn chỉ cần tách đôi hộp.
Hộp đứng nhiều tầng kiểu Brazil. Nhiều khung vuông chồng lên. Tầng dưới ong non, tầng trên mật. Tách đàn bằng nhấc tầng.
Hộp có khay mật mỏng phía trên. Một khay nông đặt trên cùng, chỉ để ong dồn bình mật. Lấy mật nhẹ nhàng, đàn ít xáo trộn.
Hộp có kính quan sát. Một tấm kính hay nhựa trong dưới nắp gỗ. Mở nắp ngoài là nhìn được tổ mà không phá vỏ trát của ong. Hợp cho trường học và người mới học.
Hộp hai lớp. Hộp trong đặt trong một hộp ngoài, giữa có khoảng trống hay vật liệu cách nhiệt. Dùng ở vùng có mùa lạnh hoặc nắng rất gắt.
Hộp có tấm ngăn có lỗ. Tấm ngăn giữa các tầng với lỗ nhỏ, giúp định hướng chỗ ong đặt bánh ong non và chỗ đặt kho.
Hộp có mái riêng. Mái nghiêng che mưa, che nắng trưa, tách khỏi nắp hộp để không khí lưu thông.
Kích thước theo loài. Không có cỡ chung. Mỗi nước điều chỉnh theo loài ong của họ, có khi trong một nước có nhiều cỡ.
Gỗ mặt trong để thô, không sơn. Ong bám và trát nhựa dễ hơn. Sơn, dầu bóng có mùi làm ong khó chịu, có thể bỏ tổ.
Chọn kiểu hộp cho từng vùng ở Việt Nam
Ở Nam Bộ và Đông Nam Bộ, nắng nóng quanh năm, có mùa mưa rõ rệt. Bài toán lớn nhất là nóng trưa và ẩm mùa mưa. Hộp nên có thành dày vừa phải, có mái riêng cách nắp một khoảng, đặt chỗ có bóng cây hay dưới mái hiên. Kiểu nằm ngang hoặc hộp có tầng mật đều chạy được.
Ở miền Trung, mùa mưa dài và có bão. Hộp cần chắc, nặng, cố định được vào giá, nắp kín không thấm, mái che rộng. Nhiều bà con miền Trung kể lại cảnh hộp nhẹ bị gió lật sau bão. Mùa khô gió nóng thì cần thêm che chắn phía tây.
Ở Tây Nguyên, ngày nóng đêm mát, mùa khô gió mạnh. Hộp thành dày giúp tổ ổn định giữa chênh lệch ngày đêm. Gắn tầng mật vào mùa hoa cà phê, hoa rừng là hợp.
Ở miền núi phía Bắc, có mùa đông lạnh. Ý tưởng hộp hai lớp hay hộp thành dày kiểu Úc đáng thử ở đây. Hộp nên vừa cỡ, không rộng, để đàn giữ được nhiệt qua những đêm lạnh.
Dù ở vùng nào, cách chọn an toàn nhất là: làm vài hộp theo hai ba kiểu khác nhau, đặt cạnh nhau, theo dõi qua một năm. Ghi lại đàn nào phát triển nhanh, đàn nào bị ruồi, hộp nào dễ lấy mật. Một năm ghi chép trên đất của mình đáng giá hơn mọi lời quảng cáo hộp.
Những sai lầm hay gặp khi bắt chước mẫu hộp nước ngoài
Sai lầm phổ biến nhất là chép nguyên kích thước. Một bản vẽ hộp của Úc làm cho loài Tetragonula ở Úc, một bản vẽ của Brazil làm cho Melipona. Đàn ong dú ở mình có thể nhỏ hơn hoặc xây tổ khác hình. Hộp to quá thì đàn không lấp nổi, ruồi vào chỗ trống. Hộp nhỏ quá thì đàn đầy nhanh và bỏ đi.
Sai lầm thứ hai là dùng gỗ không hợp. Gỗ có mùi mạnh, gỗ đã tẩm thuốc chống mối, ván ép có keo hoá chất đều có thể làm ong bỏ tổ hoặc đàn suy dần. Gỗ cũ phơi khô, không mùi, không tẩm thuốc là lựa chọn an toàn.
Sai lầm thứ ba là chạy theo hộp đắt. Hộp đẹp, có kính, có nhiều tầng không làm ong khoẻ hơn nếu đặt sai chỗ, chăm sai cách. Người Maya giữ ong hàng trăm năm trong khúc gỗ.
Sai lầm thứ tư là gắn tầng mật quá sớm. Thấy người ta có tầng mật, mình cũng gắn ngay khi đàn mới chuyển vào hộp được vài tuần. Đàn chưa đủ quân để giữ chỗ trống phía trên, ruồi và kiến vào đó trước ong.
Cuối cùng là đổi hộp liên tục. Mỗi lần chuyển đàn sang hộp mới là một lần đàn bị xáo trộn, mất ong, mất kho. Chọn một hai kiểu, làm cho thạo, rồi mới nghĩ tới đổi.
Câu hỏi thường gặp
Hộp nuôi ong dú nên làm bằng gỗ gì?
Nên dùng gỗ khô, không mùi hắc, không tẩm thuốc chống mối, không sơn mặt trong. Nhiều bà con dùng gỗ tạp đã phơi kỹ hoặc gỗ cũ tận dụng. Tránh ván ép có keo hoá chất và gỗ có nhựa mùi mạnh.
Có nên làm hộp ong dú có kính để xem?
Hộp có kính rất hợp cho người mới học, trường học hay trại đón khách vì nhìn được tổ mà ít xáo trộn. Kính phải có nắp gỗ che bên ngoài, vì ong không ngòi không thích ánh sáng chiếu thẳng vào tổ.
Hộp nằm ngang hay hộp đứng tốt hơn?
Không kiểu nào tốt hơn tuyệt đối. Hộp nằm ngang gần với chỗ ở tự nhiên và dễ nhìn, hộp đứng nhiều tầng dễ tách đàn và lấy mật gọn. Chọn theo loài ong, khí hậu và cách mình chăm, tốt nhất là thử cả hai.
Nuôi ong dú trong gáo dừa có được không?
Được với đàn nhỏ hoặc dùng làm bẫy đàn. Gáo dừa nhỏ nên đàn đầy nhanh, lấy mật khó sạch, nhưng rất rẻ và dễ treo. Nhiều người dùng gáo dừa để bắt đàn rồi chuyển sang hộp khi đàn mạnh.
Vì sao ong dú bỏ hộp mới?
Hay gặp nhất là hộp có mùi lạ từ gỗ, sơn, keo; hộp quá rộng so với đàn; hộp đặt chỗ nắng nóng hoặc bị kiến tấn công; hoặc đàn mất chúa sau khi chuyển. Kiểm lại từng điều trước khi đổ lỗi cho ong.